PHÂN TÍCH TÁC PHẨM "VỢ CHỒNG A PHỦ" CỦA TÔ HOÀI


I . ĐẶT VẤN ĐỀ .

Trước cách mạng tháng Tám, Tô Hoài nổi tiếng với tác phẩm Dế mèn phưu lưu kí . Sau cách mạng tháng Tám và đi theo kháng chiến, Tô Hoài tiếp tục khẳng định tài năng của ḿnh bằng tập Truyện Tây Bắc . Vợ chồng A Phủ là truyện ngắn thành công nhất trong ba truyện ngắn viết về đề tài Tây Bắc . Tác phẩm có một giá trị hiện thực và nhân đạo đáng kể . Truyện viết về cuộc sống của người dân lao động vùng núi cao, dưới ách thống trị tàn bạo của bọn thực dân phong kiến miền núi . Đặc biệt truyện đă ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, sức sống tiềm tàng và khả năng đến với cách mạng của họ .


II . GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ .

“Ai ở xa về, có dịp vào nhà thống lí Pá Tra thường trông thấy có một cô gái ngồi quay sợi gai bên tảng đá trước cửa, cạnh tầu ngựa . Lúc nào cũng vậy, dù quay sợi, thái cỏ ngựa, dệt vải, chẻ củi hay đi cơng nước dưới khe suối lên, cô ấy cũng cúi mặt, mặt buồn rười rượi ” .

Vợ chồng A Phủ mở đầu như thế , một sự mở đầu xứng đáng với giọng kể chuyện đẹp như ru . Thế giới Tây Bắc đă được mở ra xa xăm ḱ diệu, trên cả ư nghĩa và nhạc điệu và lời văn . Một thế giới không phải cổ tích mà như thoảng hương ca dao cổ tích, một thế giới hứa hẹn rất nhiều sức gợi cảm, qua một bức chân dung thiếu phụ buồn .

Mị là một người con gái đẹp, một vẻ đẹp mang tính thuần nhất với vẻ đẹp trong văn chương . Mị có nhan sắc, và có khả năng âm nhạc, không có đàn t́ bà, không có nguyệt cầm th́ cô giỏi sáo và giỏi “uốn chiếc lá trên môi, thổi lá cũng hay như thổi sáo” . Mà tài năng âm nhạc, cũng theo truyền thống thường hé mở một tâm hồn tràn đầy khát khao cuộc sống, khát khao yêu đương . Quả thế, Mị đă được yêu, và đă khát khao yêu, trái tim từng đă bao nhiêu lần hồi hộp trước trước âm thah ḥ hẹn của người yêu .

Nhưng người con gái tài hoa miền sơn cước đó phải chịu một cuộc đời có thể nói là bạc mệnh . Để cứu nạn cho cha, cuối cùng cô đă chịu bán ḿnh, chịu sống cảnh làm người con dâu gạt nợ trong nhà thống lí .

Tô Hoài đă không quên diễn tả nỗi cực nhọc về thể xác của người con gái ấy, con người với danh nghĩa là con dâu , nhưng thực chất chính là tôi tớ . Thân phận Mị không chỉ là thân trâu ngựa, “Con trâu con ngựa làm c̣n có lúc, đêm nó c̣n được đứng găi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái ở cái nhà ngày th́ vùi vào việc làm cả ngày lẫn đêm” .

Song nhà văn xem ra vẫn thông cảm nhiều hơn với nỗi đau khổ về tinh thần . Chính cảm xúc về nỗi đau thinh thần ấy đă giúp ông sáng tạo ra những ngôn từ, những h́nh ảnh khó quên : Một cô Mị mới hồi nào c̣n rạo rực yêu đương, bây giờ lạng câm , “lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa” . Và nhất là h́nh ảnh căn buồng Mị, kín mít với cái cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay, Mị ngồi trong đó trông ra lúc nào cũng thấy mờ mờ trăng trắng không biết là sương hay là nắng . Đó quả thực là một thứ địa ngục trần gian giam hăm thể xác Mị, cách li tâm hồn Mị với cuộc đời, cầm cố tuổi xuân và sức sống của cô . Rơ ràng tiếng nói tố cáo chế độ phong kiến miền núi ở đây đă được cất lên nhân danh quyền sống . Cái chế độ ấy đáng lên án, bởi v́ nó làm cạn khô nhựa sống, làm tàn lụi đi ngọn lửa của niềm vui sống trong những con người vô cùng đáng sống .

Mị đă tùng muốn chết mà không được chết , v́ cô vẫn c̣n đó món nợ của người cha . Nhưng dến lúc có thể chết đi, v́ cha Mị không c̣n nữa th́ Mị lại buông trôi , kéo dài măi sự tồn taịi vật vờ . Chính lúc này cô gái c̣n đáng thương hơn . Bởi muốn chết nghĩa là vẫn c̣n muốn chống lại một cuộc sống không ra sống, nghĩa là xét cho cùng, c̣n thiết sống . C̣n khi đă không thiết chết , nghĩa là sự tha thiết với cuộc sống cũng không c̣n, lúc đó th́ lên núi hay đi nương, thái cỏ ngựa hay cơng nước… cũng chỉ là cái xác không hồn của Mị mà thôi .

Như vậy sức sống của Mị đă vĩnh viễn mất đi ? Không phải thế, bên trong cái h́nh ảnh con rùa lầm lũi kia dang c̣n một con người . Khát vọng hnạh phúc có thể bị vùi lấp , bị lăng quyên trong đáy sâu của một tâm hồn đă chai cứng v́ đau khổ, nhưng không thể bị tiêu tan . Gặp thời cơ thuận lợi th́ nó lại cháy lên từ lớp tro tàn . Và nó, cái khát vọng hạnh phúc đó đă bất chợt cháy lên, thật nồng nàn và xót xa trong một đêm xuân đầy ắp tiếng gọi của t́nh yêu .

Có thể nói cuộc nổi loạn lần thứ nhất trong tâm hồn Mị là đoạn văn thử thách thực sự ng̣i bút của Tô Hoài . Làm sao có thể cắt nghĩa được v́ lí do ǵ mà cô Mị của ngày xưa, cô Mị đầy xuân t́nh xuân sắc lại bỗng dưng thức dậy trong người đàn bà âm thầm, chịu đựng mỏi ṃn đúng vào, và chỉ đúng vào cái đêm t́nh mùa xuân ấy ? Làm sao con người đă chôn vùi cả tuổi thanh xuân trong gian buồng kín mít chỉ có cái lỗ vuông nhỏ mờ mờ trăng trắng kia suốt từng ấy năm trời, vào đúng đêm ấy lại muốn vùng lên, nảy sinh ư định đi chơi xuân ? Nguyên do là bởi đất trời ? Quả thực bức tranh Hồng Ngài mùa xuân năm ấy có sức làm say đắm ḷng người, ngất ngây tâm hồn tuổi trẻ . Song gió rét, sắc vàng ửng của cỏ tranh, hay sự biến đổi màu sắc ḱ ảo của các ḷa hoa đẹp chưa hẳn đă đủ để làm nên cuộc nổi loạn trong một tâm hồn đă bấy nhiêu năm tê dại v́ đau khổ . Cần phải có những tác nhân khác nữa, mạnh mẽ hơn, có sức lôi cuốc Mị ra khỏi hiện tại để Mị trở về với chính ḿnh của xa xưa : phơi phới , trẻ trung, yêu đời .

Tác nhân ấy, theo Tô Hoài trước hết phải là hơi rượu . Ngày tết năm đó Mị cũng uống rượu, Mị lén uống từng bát , “uống ừng ực” rồi say đến lịm người đi . Cái say cùng lúc vừa gây sự lăng quên vừa đem về nỗi nhớ . Mị lăng quên thực tại (nh́n mọi người nhảy đồng , người hát mà không nghe, không thấy và cuộc rượu tan lúc nào cũng không hay) nhưng lại nhớ về ngày trước (ngày trước, Mị thổi sáo cũng giỏi …), và quan trọng hơn là Mị vẫn nhớ ḿnh là một con người, vẫn có cái quyền sống của một con người : “Mị vẫn c̣n trẻ . Mị muốn đi chơi . Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết . Huống chi Mị và A Sử, không có ḷng với nhau mà vẫn phải ở với nhau” .

Nhưng tác nhân có tác dụng nhiều nhất trong việc d́u hồn Mị bềnh bồng về với những khát khao hạnh phúc yêu đương có lẽ vẫn là tiếng sáo bởi tiếng sáo là tiếng gọi của mùa xuân, của t́nh yêu và tuổi trẻ . Tiếng sáo lúc đầu đă có t́nh cảm lắm, nhưng c̣n vọng lại từ xa, măi từ ngoài đầu núi, và Mị vẫn c̣n đủ tỉnh táo để để nhẩm theo lời hát . ít lâu sau, tai Mị lại vẳng tiếng sáo , nhưng không c̣n vẳng từ ngoài đầu núi xa nữa mà là tiếng sáo gọi bạ đầu làng . Rồi đến lúc tiếng sáo không chỉ là gọi bạn. Nó gọi bạn yêu . Và nó “lửng lơ bay ngoài đường” , như t́nh ai không thể tan, như ḷng ai đợi chờ, hờn trách . Để rồi cuối cùng tiếng sáo rập rờn trong đầu Mị, nó đă trở nên tiếng ḷng của người thiếu phụ .

Tô Hoài đă đặt Mị trong sự tương giao giữa một bên là sức sống tiềm tàng với một bên là cảm thức về thân phận . Cho nên trong thời khắc âư, ta mới thấy Mị đầy rẫy những mâu thuẫn . Ḷng phơi phới nhưng Mị vẫn theo quán tính bước vào buồng , ngồi xuống giường, trông ra cái lỗ vuông mờ mờ trăng trắng . Và khi ḷng ham sống trỗi dậy th́ ư nghĩ đầu tiên là được chết ngay đi .
Nhưng rồi nỗi ám ảnh và sức sống mănh liệt của tuổi xuân cứ lớn dần , cho tới khi nó lấn chiếm hẳn trọn bộ tâm hồn và suy nghĩ của Mị, cho tới khi Mị hoàn toàn ch́m hẳn vào trong ảo giác : “Mị muốn đi chơi . Mị cũng sắp đi chơi” . Phải tới thời điểm đó Mị mới có hành động như một kẻ mộng du : quấn lại tóc , với thêm cái váy hoa, rồi rút thêm cái áo . Tất cả những việc đó , Mị đă làm như trog một giấc mơ, tuyệt nhiên không nh́n thấy A Sử bước vào, không nghe thấy A Sử hỏi “.

Rồi cái ǵ đến đă đến . A Sử trói Mị vào cột, rồi lẳng lặng khoác thêm ṿng bác đi chơi , bỏ mặc Mị trong trạng thái mộng du đang ch́m đắm với những giấc mơ về một thời xuân trẻ, đang bồng bềnh trong cảm giác du xuân . Tâm hồn Mị đang c̣n sống trong thực tại ảo, sợi dây trói của đời thực chưa thể làm kinh động ngay lập tức giấc mơ của kẻ mộng du . Cái cảm giác về hiện tại tàn khốc, Mị chỉ cảm thấy khi vùng chân bước theo tiếng sáo mà tay chân đau không cựa được . Nhưng nếu cái mơ không đến một lần nữa th́ sự tỉnh ra cũng vậy . Lại một giai đoạn chập chờn nữa giữa cái mơ và cái tỉnh, giữa tiếng sáo và nỗi đau nhức của dây trói và tiếng con ngựa đạp vách, nhai cỏ , găi chân . Nhưng bây giờ th́ theo chiều ngược lại, tỉnh dần ra, đau đớn và tê dại dần đi, để sáng hôm sau lại trở về với vị trí của con rùa nuôi trong câm lặng, mà c̣n câm lặng hơn trước .

Nhưng có lẽ sức sống của Mị bùng lên mạnh mẽ nhất là lúc Mị cởi trói cho A Phủ . Cũng như Mị, A Phủ là nạn nhân của chế độ độc tài phong kiến miền núi . Những va chạm mang đầy tính tự nhiên của lứa tuổi thanh niên trong những đêm t́nh mùa xuân đă đưa A Phủ trở thành con ở gạt nợ trong nhà thống lí . Và bản năng của một người con vốn sống gắn bó với núi rừng, ham thích săn bắn đă đẩy A Phủ tới hiện thực phũ phàng : bị trói đứng . Và chính hoàn cảnh bi thương đó đă đánh thức ḷng thương cảm trong con người Mị . Nhưng t́nh thương đó không phải tự nhiên bùng phát trong Mị mà là kết quả của một quá tŕnh đấu tranh giằng xé trong thế giới nội tâm của cô . Mấy hôm đầu Mị vô cảm, thờ ơ với hiện thực trước mắt : “A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi” . Câu văn như một minh chứng sự tê dại trong tâm hồn Mị . Bước ngoặt bắt đầu từ những ḍng nước mắt :“Đêm ấy A Phủ khóc . Một ḍng nước mắt lấp lánh ḅ xuống hai lơm má đă xạm đen” . Và giọt nước mắt kia là giọt nước cuối cùng làm tràn đầy cốc nước . Nó đưa Mị từ cơi quên trở về với cơi nhớ . Mị nhớ ḿnh đă từng bị trói, đă từng đau đớn và bất lực . Mị cũng đă khóc, nước mắt chảy xuống cổ, xuống cằm không biết lau đi được . A Phủ, nói đúng hơn là ḍng nước mắt của A Phủ, đă giúp Mị nhớ ra ḿnh, xót thương cho ḿnh .

Và đă nhớ lại ḿnh, biết nhận ra ḿnh cũng từng có những đau khổ, mới có thể thấy có người nào đó cũng khổ giống ḿnh . Từ sự thương ḿnh, Mị dần dần có t́nh thương với A Phủ, t́nh thương với một con người cùng cảnh ngộ . Nhưng nó c̣n vượt lên giới hạn thương ḿnh : “Ḿnh là đàn bà … chỉ c̣n biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi c̣n người kia việc ǵ mà phải chết ” . Mị cởi trói cho A Phủ để rồi bất ngờ chạy theo A Phủ . Ḷng ham sống của một con người như được thổi bùng lên trong Mị, kết hợp với nỗi sợ hăi, lo lắng cho ḿnh. Mị như t́m lại được con người thật , một con người c̣n đầy sức sống và khát vọng thay đổi số phận .

Nhà văn Tô Hoài đă viết về Mị , A Phủ với tất cả ḷng yêu thương, thông cảm, và chỉ có ḷng yêu thương thông cảm, Tô Hoài mới phát hiện ra vẻ đẹp tiềm tàng trong tâm hồn những con người ham sống như Mị , như A Phủ .

III .KẾT THÚC VẤN ĐỀ .

Vợ chồng A Phủ là bản cáo trạng hùng hồn, đanh thép đối với những thế lực phong kiến , thực dân tàn bạo áp bức bóc lột, đọa đày người dân nghèo miền núi . Đồng thời nó cũng khẳng định khát vọng tự do hạnh phúc , sức sống mạnh mẽ và bền bỉ của những người lao động . Đặc biệt đề cao sự đồng cảm giai cấp, t́nh hữu ái của những người lao động nghèo khổ . Chính điều này đem lại sức sống và sự vững vàng trước thời gian của Vợ chồng A Phủ .

(Sưu tầm)
Xem thêm bài khác