1. Đăng nhập
  2. Đăng kư
Trang 1/3 123 CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 28
  1. #1
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gửi
    1.721
    Cảm ơn
    4
    Thanked 102 Times in 78 Posts

    Những bài nghị luận văn học lớp 12 (Phần II)

    ►Xem: 12023 ►Trả Lời: 27
    ►Chia Sẽ:
    01-07-2012

    NHỮNG BÀI NGHỊ LUẬN VĂN HỌC LỚP 12 (PHẦN II)



    MỤC LỤC


    PHẦN 1


    Đề 1: Phân tích "Tây Tiến" của Quang Dũng.

    Đề 2: Phân tích 8 câu thơ đâù "Tây Tiến" của tác giả Quang Dũng:
    " Sông Mă xa rồi Tây Tiến ơi!
    ..... mưa xa khơi"

    Đề 3: Phân tích khổ thơ sau được trích trong bài "Tây Tiến" của Quang Dũng:
    " Tây Tiến đoàn quân không mọc tóc
    ..........................
    Sông Mă gầm lên khúc độc hành"

    Đề 4: Phân tích đoạn thơ sau trong bài " Tây Tiến" của Quang Dũng
    "... Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa,
    Sông Mă gầm lên khúc độc hành..."

    Đề 5: B́nh giảng bức tranh tứ b́nh trong bài thơ "Việt Bắc".

    Đề 6: Anh chị hăy phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu:
    "Ḿnh về ḿnh có nhớ ta
    ........
    Tân Trào, Hồng Thái, mái đ́nh, cây đa"

    Đề 7: Phân tích bài "Đất nước" (trích trường ca Mặt đường khát vọng) của Nguyễn Khoa Điềm.

    Đề 8: Qua bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm anh chị hăy làm sang tỏ quan điểm Đất nước là của nhân dân.

    PHẦN 2:

    Đề 9: B́nh giảng bài thơ "Sóng" của Xuân Quỳnh.

    Đề 10: B́nh giảng đoạn thơ sau đây trong bài "Sóng" của nhà thơ Xuân Quỳnh.
    "...Con sóng dưới ḷng sâu...

    Hướng về anh một phương".

    Đề 11: Phân tích h́nh tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh. Anh (chị) cảm nhận ǵ về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong t́nh yêu qua h́nh tượng này?

    Đề 12: Cảm nhận bài "Đàn ghi ta của F.G.Lorca" của Thanh Thảo.

    Đề 13: Phân tích bài "Người lái đ̣ sông Đà" của Nguyễn Tuân.

    Đề 14: Cảm nhận "Người lái đ̣ Sông Đà" của Nguyễn Tuân.

    Đề 15: H́nh tượng người lái đ̣ trong tuỳ bút " Người lái đ̣ sông Đà" của Nguyễn Tuân.

    Đề 16: Anh chị hăy phân bài "Ai đă đặt tên cho ḍng sông?" của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

    Đề 17: Phân tích tác phẩm Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài.

    Đề 18: Qua hai nhân vật Mị và A Phủ, hăy phân tích giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của tác phẩm Vợ chồng A phủ của Tô Hoài.

    Đề 19: Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị (Vợ chồng A Phủ - Tô Hoài).

    Đề 20: Phân tích tác phẩm Vợ nhặt của Kim Lân.

    Đề 21: Giá trị hiện thực và nhân đạo trong "Vợ nhặt".

    Đề 22: Phân tích nhân vật người vợ nhặt, từ đó làm nổi bật lên số phận của người dân Việt trước CM.

    Đề 23: PHÂN TÍCH CÁC NHÂN VẬT TRONG BÀI VỢ NHẶT CỦA KIM LÂN.

    Đề 24: Phân tích h́nh tượng nhân vật bà cụ Tứ trong tác phẩm "Vợ nhặt" của Kim Lân.

    Đề 25: H̀NH TƯỢNG CÂY XÀ NU TRONG " RỪNG XÀ NU" CỦA NGUYỄN TRUNG THÀNH.

    Đề 26: Tính sử thi của tác phẩm Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành).

    Đề 27: Phân tích h́nh tượng nhân vật Tnu trong tác phẩm Rừng Xà Nu của Nguyễn Trung Thành.

    Đề 28: Phân tích h́nh tượng cây xà nu trong truyện ngắn Rừng Xà Nu của Nguyễn Trung Thành. Nhận xét ngắn gọn về nghệ thuật miêu tả cây xà nu của nhà văn.

    Đề 29: Vẻ đẹp con người Nam bộ trong kháng chiến chống Mỹ qua tác phẩm Những đứa con trong gia đ́nh của nhà văn Nguyễn Thi.

    Đề 30: Trong chuyện những đứa con trong gia đ́nh. Nguyễn Thi có nêu lên quan niệm: chuyện gia đ́nh cũng dài như sông, mỗi thế hệ phải ghi vào 1 khúc. Rồi trăm con sông của gia đ́nh lại cùng đổ về 1 biển," mà biển th́ rộng lắm[...], rộng bằng cả nước ta và ra ngoài cả nước ta". Anh(chị)có cho rằng trong thiên truyện của Nguyễn Thi quả đă có 1 ḍng sông truyền thống liên tục chảy từ những lớp người đi trước: tổ tiên, ông cha, cho đến lớp người đi sau : chị em Chiến và Việt.

    Đề 31: Anh (chị) hăy phân tích nhân vật Phùng trong tác phẩm " Chiếc thuyền ngoài xa " của Nguyễn Minh Châu.

    Đề 32: Anh chị hăy phân tích t́nh huống truyện trong truyện ngắn "Chiếc thuyền ngoài xa" của Nguyễn Minh Châu.




    Xem thêm bài khác

  2. #2
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gửi
    1.721
    Cảm ơn
    4
    Thanked 102 Times in 78 Posts

    NỘI DUNG

    Đề 9: B́nh giảng bài thơ "Sóng" của Xuân Quỳnh.

    BÀI LÀM:


    Nếu như Xuân Diệu đă từng thổn thức v́ t́nh yêu, dâng hiến trọn đời cho t́nh yêu, chạy vội với thời gian để được yêu th́ Xuân Quỳnh cũng thế, cũng từng thấp thỏm, lo âu, đau khổ v́ yêu. Nhưng dù sao đi nữa, là phận nữ nhi nên người rất ít tỏ ra táo bạo, quá mạnh dạn như Xuân Diệu. Đọc thơ Xuân Quỳnh, ta thường bắt gặp h́nh ảnh con sóng, chiếc thuyền nói hộ t́nh yêu... Cũng v́ lẽ ấy, suy cho cùng đây chỉ là những chất liệu dung dị, b́nh thường nhất trong cuộc sống song lại chứa đựng biết bao là ẩn ư, biết bao là ẩn t́nh mà Xuân Quỳnh muốn bày tỏ. Chúng ta đă đến với "sóng" của Xuân Quỳnh để thưởng thức từng vị thương, vị nhớ của một người phụ nữ đang yêu.

    Người ta thường ví rằng t́nh yêu là một bông hoa ḱ diệu! Vâng! Quả đúng như thế, t́nh yêu chưa bao giờ đi theo một hướng xác định. Cũng có lúc, người ta nh́n nhận t́nh yêu là cây đàn muôn điệu gảy lên muôn bản nhạc t́nh, có khi trầm bổng thiết tha, có khi nghẹn ngào đau đớn, cũng có khi e ấp, nũng nịu, dễ thương. Th́ đây, trong bài thơ này, t́nh cảm của nhân vật "Em" cũng biến thiên như thế!

    "Sóng" là thơ ngụ ngôn, một thể thơ rất phù hợp để kể về một huyền thoại t́nh yêu đầy ăm ắp những tâm trạng khắc khoải, những cung bậc t́nh cảm và v́ thế bài thơ dễ dàng được phổ nhạc.
    Sóng! - là một h́nh tượng ẩn dụ, là phương tiện bộc lộ t́nh cảm của nhân vật "Em":

    "Dữ dội và dịu êm
    Ồn ào và lặng lẽ
    Sóng không hiểu nổi ḿnh
    Sóng t́m ra tận bể
    Ôi con sóng ngày xưa
    Và ngày sau vẫn thế
    ... Bồi hồi trong ngực trẻ"


    Một câu chuyện cổ tích về t́nh yêu được nhà thơ Xuân Quỳnh kể lại. Câu chuyện bắt đầu từ một con sóng nhỏ chẳng biết xuất phát từ đâu, sóng hiện ra như một con người có nội tâm nhiều biến động. Hai trạng thái tâm hồn đối lập nhau, giằng xé nhau, buồn vui lẫn lộn. Sóng chẳng hiểu tại sao ḿnh lại cứ "dữ dội" rồi "dịu êm", "ồn ào" rồi "lặng lẽ". Phải chăng sóng đang yêu, yêu âm thầm,lặng lẽ? Vâng! Một t́nh cảm đang rạo rực trong trái tim người con gái, làm sao ai có thể "định nghĩa được t́nh yêu". Một buổi chiều mộng? Một lần gặp gỡ? Một phút xao động trong tâm hồn ? Người con gái hay chính nhân vật "Em" trong bài đang cố t́m câu giải đáp cho t́nh yêu, cho sự bâng khuâng, đối lập của ḷng ḿnh. Và rồi chỉ c̣n một lối thoát: con sóng phải t́m ra tận bể cũng như "Em" đi t́m nguồn gốc của t́nh yêu.

    Tâm hồn con người là một cơi mênh mông vô tận. Làm sao ta có thể đi xuyên suốt hết cái cơi vô tận ấy. Và ngay chính trong lúc cơi ḷng đang bùng lên ngọn lửa yêu thương th́ cô gái trẻ lại càng trăn trở, bâng khuâng, khắc khoải, dằn vặt với chính ḷng ḿnh. Phải vượt khỏi cái giới hạn chật hẹp này, phải lao ḿnh vào chân trời bao la, những miền vô tận để hiểu rơ ḷng ḿnh. Con sóng đă rời bờ ra đi, đi thật xa, cố t́m hiểu và soi ḿnh với những con sóng khác để biết được sự huyền diệu của t́nh yêu, mà hiện tại đối với sóng vẫn c̣n là một bí mật. T́nh yêu là ǵ ư? Một nhà thơ Pháp đă từng khẳng định: "t́nh yêu là điều mà con người không thể hiểu nổi". Và thế rồi con sóng vẫn đi t́m măi, t́m măi:

    "Ôi con sóng ngày xưa
    Và ngày sau vẫn thế
    Nỗi khát vọng t́nh yêu
    Bồi hồi trong ngực trẻ"


    T́nh yêu cũng như con sóng, vẫn vĩnh hằng với thời gian và tuổi trẻ. Xuân Diệu đă từng nói:

    "Hăy để trẻ con nói cái ngon của kẹo
    Hăy để tuổi trẻ nói hộ t́nh yêu"


    T́nh yêu gắn liền với tuổi trẻ. Tuổi trẻ là trái tim dào dạt, đa cảm và rạo rực niềm yêu thương chất sống. Chính v́ thế, mà cái khát vọng t́nh yêu cứ bồi hồi trong ngực trẻ, nó cứ thúc đẩy tuổi trẻ đi t́m chân lư yêu đương, cũng như con sóng "ngày xưa và ngày sau vẫn thế".Tuy nhiên, câu thơ "bồi hồi trong ngực trẻ " là một câu thơ chưa chín.Thật ra ngực trẻ hay ngực già... đều nồng nàn và bồi hồi trước t́nh yêu. Song, sóng và em cứ t́m măi mà chẳng hiểu ḿnh, chẳng thể hiểu được t́nh yêu. Sóng chính là điển h́nh của sự nhận thức về cái "quy luật" không thể cắt nghĩa được t́nh yêu:

    "Sóng bắt đầu từ gió
    Gió bắt đầu từ đâu
    Em cũng không biết nữa
    Khi nào ta yêu nhau".


    Sóng bắt đầu từ gió - Vâng! Gió bắt đầu từ đâu? T́nh yêu bắt đầu từ đâu? -"Em"cũng không biết nữa. Đọc những câu thơ này, ta chợt h́nh dung cái lắc đầu nhè nhẹ như một sự bất lực của cô gái. Trong khi người con gái cố đi t́m cội nguồn t́nh yêu th́ t́nh yêu trở thành tṛ chơi ú tim, không tài nào nắm bắt được. Và thế là, muôn đời t́nh yêu vẫn là sự bí hiểm .T́nh yêu của "Em" giờ đây trở thành nỗi nhớ da diết, giày ṿ. Nó choáng đầy cả không gian, nó chiếm cả tầng sâu và bề rộng, nó trải dài trong mọi thời gian. Phạm Đ́nh An đă nhận xét: "T́nh yêu trong thơ Xuân Quỳnh không dừng lại ở mức độ yêu buổi đầu giản đơn ḥ hẹn, non nớt, ngọt ngào, mà là t́nh yêu hạnh phúc, t́nh yêu gắn bó với cuộc sống chung với nhiều đ̣i hỏi ở chiều sâu t́nh cảm, với nhiều chứng minh của thử thách, mang đậm dấu ấn trách nhiệm". Chính v́ thế mà t́nh yêu của người "Em". Ở đây có thể nói không c̣n bồng bột mà khá chín chắn, có sự can thiệp của lư trí, có ư thức về mặt t́nh cảm. Ấy thế mà trong ḷng người con gái vẫn trỗi dậy mănh liệt một nỗi nhớ muôn h́nh, muôn sắc:

    "Con sóng dưới ḷng sâu
    Con sóng trên mặt nước
    Ôi con sóng nhớ bờ
    Ngày đêm không ngủ được"


    Nỗi nhớ của "Em", của t́nh yêu dữ dội được khởi đầu từ những cái cao cả lớn lao, không tủn ngủn và tầm thường chút nào! Nỗi nhớ ấy da diết, cuốn lấy tâm hồn người con gái! Với Xuân Quỳnh là thế: mọi con sóng đều có bờ, mục đích là vỗ vào bờ, nên khi sóng xa bờ th́ phải nhớ bờ, ngày đêm không ngủ được. Cũng như sóng, nỗi nhớ về "Anh" vẫn dào lên mănh liệt:

    "Ḷng em nhớ đến - Anh
    Cả trong mơ c̣n thức"


    T́nh yêu đến, t́nh yêu mang theo một nỗi nhớ vô bờ đến với "Em", choáng ngợp tâm hồn "Em". T́nh yêu đă trở nên đậm đà đến thế, và nỗi nhớ lại càng da diết miên man. "Có không gian nào dài hơn chiều dài nỗi nhớ, có một khoảng mênh mông nào sâu thẳm hơn t́nh yêu...". Vâng! Làm sao đo được nỗi nhớ, làm sao đo được t́nh yêu! "Em"vẫn nhớ đến "Anh", chỉ nhớ về phương anh mà thôi:

    "Dẫu xuôi về phương Bắc
    Dẫu ngược về phương Nam
    Nơi nào em cũng nghĩ
    Hướng về anh một phương".


    T́nh yêu thật huyền diệu! Điều đáng nói là "Em" biết chủ động, biết gửi trao nỗi nhớ về hướng xác định: Phương anh! - Phương của t́nh yêu: "rợp trời thương ấy mấy màu xanh suốt, mà em nghiêng hết ấy mấy về phương anh, mà em nghiêng hết ấy mấy về phương anh...". T́nh yêu của người phụ nữ thật mănh liệt nhưng cũng thật trong sáng, dung dị, một t́nh yêu thuỷ chung và trọn vẹn. Song, để toàn vẹn mối t́nh ấy, con sóng phải vượt qua muôn ngàn cách trở:

    "Ở ngoài kia đại dương
    Trăm ngàn con sóng đó
    Con nào chẳng tới bờ
    Dù muôn vời cách trở"


    Con sóng muốn tới bờ, phải vượt qua bao giông tố, băo bùng. Em muốn hướng về anh, phải vượt qua bao cạm bẫy cuộc đời. Suy cho cùng, t́nh yêu phải cần thử thách tôi luyện mới thấy rơ giá trị thực sự của nó. T́nh yêu muốn tồn tại cũng phải có sự ra đi và trở lại, phải có sự dồi lên, lắng xuống để cuối cùng trở về với t́nh yêu hồn nhiên thuở đầu. Chính t́nh yêu của anh đă giúp cho em vượt qua tất cả, đón nhận một t́nh yêu vĩnh cửu - t́nh yêu lớn lao và cao thượng, không mang màu sắc vị kỉ, riêng rẽ mà là hoà trong cái chung và ở trong cái chung mênh mông ấy, cái riêng sẽ tồn tại măi măi:

    "Làm sao được tan ra
    Thành trăm con sóng nhỏ
    Giữa biển lớn t́nh yêu
    Để ngàn năm c̣n vỗ"


    T́nh yêu sẽ trưởng thành đằm thắm hơn và sẽ vĩnh hằng trong cái đẹp của tạo hoá. Bài thơ kết thúc rồi mà nhịp điệu êm ái, nhẹ nhàng của t́nh yêu vẫn c̣n vướng đọng đâu đây. Bài thơ thành công không chỉ trong việc miêu tả h́nh tượng " Sóng" mà c̣n bộc lộ một t́nh yêu thật sôi nổi, nỗi khao khát t́nh yêu của một nhà thơ nữ. Đây chính là nét mới mẻ trong thơ ca hiện đại Việt nam. Trong rất nhiều loài hoa th́ bông hoa Xuân Quỳnh tỏa ra một hương thơm riêng, một cách cảm nhận riêng về sóng - biển trong t́nh yêu. T́nh yêu như con sóng mênh mang, vô tận, song cái đích cuối cùng cũng là một t́nh yêu thứ nhất, vĩnh hằng măi măi.

  3. #3
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gửi
    1.721
    Cảm ơn
    4
    Thanked 102 Times in 78 Posts

    Đề 10: B́nh giảng đoạn thơ sau đây trong bài "Sóng" của nhà thơ Xuân Quỳnh.
    "...Con sóng dưới ḷng sâu...

    Hướng về anh một phương".


    BÀI LÀM:


    Sóng biển rộng lớn, bao la mà vẫn điệp trùng thương nhớ. Sóng biển vật vă, thương đau mà vẫn một đời mê đắm. Sóng biển dữ dội thét gào mà vẫn nồng cháy thương yêu. Phải, có những con sóng như thế, những con sóng mang trong ḿnh biết bao đói cực vẫn đêm ngày cuộc tṛn trong thơ, trong tâm hồn người phụ nữ đa tài, đa t́nh và cũng đa đoan ấy: nữ sĩ Xuân Quỳnh. Và bài thơ "Sóng" của Xuân Quỳnh đă chuyên chở hết cái tài, cái t́nh và cả cái đa đoan ấy của nữ sĩ mà tiêu biểu là đoạn thơ:

    "Con sóng dưới ḷng sâu
    ...
    Hướng về anh một phương"


    Ḥa cùng những con sóng: sóng thơ, sóng ḷng, ta t́m về cơi sâu kín của tâm hồn thi sĩ và cũng là của muôn kiếp "má hồng". Bài thơ "Sóng" ra đời khi những con sóng ḷng dâng lên dữ dội, những con sóng nhớ thương, thao thức của một tâm hồn đang yêu. Cả bài thơ là những đợt sóng nối nhau vỗ vào tâm hồn người đọc. Sóng và nhân vật em đan quyện vào nhau để th́ thầm những nỗi niềm, những tâm tư. Và có thể nói, khổ thơ:

    "Con sóng dưới ḷng sâu
    ...
    Hướng về anh - một phương"


    Đây là một khổ thơ vô cùng đặc biệt bởi trong bài thơ chỉ duy nó có sáu câu. Sáu câu thơ trải dài như nỗi thao thức, băn khoăn của tâm hồn thi sĩ trong đêm. "Con sóng dưới ḷng sâu / Con sóng trên mặt nước", hai câu thơ với h́nh thức lặp quyện ḥa cùng nghệ thuật đối vỗ nên điệp trùng những con sóng với nhiều dạng thức khác nhau. Con sóng lặn sâu dưới ḷng đại dương qua thanh bằng cuối câu thơ. Con sóng dữ dội tung bọt trắng xóa trên mặt biển với thanh trắc. Cả hai kết hợp với nhau làm nên sự đa dạng của sóng biển. Sóng là em, em là sóng. Cũng như sóng kia, tâm hồn em cũng vô vàn những phức tạp khó hiểu. Lúc lặng lẽ, êm đềm khi nồng nàn dữ dội, nhưng thế nào đi nữa, em vẫn măi là em, vẫn măi ôm trong ḷng một nỗi nhớ thương không dứt. Cũng như sóng kia thôi, dù dịu êm hay dữ dội th́:

    "Ôi con sóng nhớ bờ
    Ngày đêm không ngủ được"


    Xuân Quỳnh vô cùng tinh tế khi mượn một h́nh tượng rất động để diễn ta nỗi niềm của người phụ nữ khi yêu. Sóng muôn đời vẫn thế, có bao giờ thôi vỗ sóng, có khi nào chẳng cồn cào, ẩn sâu trong ngực sóng là nhịp đập của đại dương mênh mông. Sóng chẳng c̣n là sóng nếu tĩnh yên, lặng lẽ. V́ vậy mà sóng đă được Xuân Quỳnh diễn tả bằng một từ ngữ rất sáng tạo " không ngủ được". Sóng là vậy, dù lặng yên dưới ḷng biển hay dữ dội trên mặt đại dương th́ ngàn đời vẫn khát khao t́m về bến bờ tĩnh tại. Chưa đến được bờ th́ nhớ thương, thương nhớ, th́ thao thức một nỗi niềm. Chọn h́nh tượng sóng-một trong những h́nh tượng đồng nhất của tự nhiên, Xuân Quỳnh đă khẳng định được bản lĩnh của ḿnh. Chọn h́nh tượng động để gắn với người phụ nữ, người mà xưa nay được ví như liễu yếu đào tơ, Xuân Quỳnh phải đứng trước nhiều thử thách nhưng chị đă vượt qua bằng một bản lĩnh vững vàng và hơn hết là bằng một tâm hồn phụ nữ nhạy cảm tinh tế. C̣n sự vật nào hơn sóng có thể diễn tả hết được cái ḷng người phụ nữ đang yêu: nồng nàn, băn khoăn, bồn chồn, thao thức lắm ! Nỗi băn khoăn ấy được góp nước từ nỗi nhớ: nhớ một người!

    "Ḷng em nhớ đến anh
    Cả trong mơ c̣n thức"


    Sóng bây giờ dường như cũng đă không c̣n đủ sức chuyên chở nỗi ḷng người phụ nữ. Nỗi nhớ như thiêu, như đốt, như phá tan những phàm tục đời thường, cất cánh đưa người phụ nữ đến một cơi mơ. Ở đây Xuân Quỳnh dùng từ " ḷng" thật chính xác để diễn tả t́nh cảm của người phụ nữ với t́nh yêu. Ḷng là chốn sâu kín nhất của tâm hồn, ḷng là kết tinh của t́nh cảm được chưng cất trong một thời gian dài qua biết bao thử thách. V́ vậy mà tấm ḷng ấy không chút hời hợt mà đă là gan, là ruột của người phụ nữ rồi. "Ḷng em nhớ đến anh", ơi thương sao câu nói giản dị, chân thành mà nồng nàn, da diết đến thế. Câu thơ "cả trong mơ c̣n thức" lóe lên điểm sáng của
    nghệ thuật. Có thể nói, với câu thơ ấy, Xuân Quỳnh đă có thể được xem là thi sĩ tài năng bật nhất của thi ca hiện đại Việt Nam. Câu thơ như trào dâng nâng nỗi nhớ niềm thương sóng - em đan quyện vào nhau. Em lặng đi để sóng trào lên. Nhưng sóng cũng là em, sóng
    trào lên mang theo lớp lớp tâm t́nh của em.

    "Dẫu xuôi về phương Bắc
    Dẫu ngược về phương Nam"


    Đầu mỗi câu thơ, Xuân Quỳnh đă đóng vào đó những từ chỉ sự đối lập ("dẫu"). Nó chỉ một sự khẳng định chắc nịch, vững vàng rằng khó khăn, thách thức là mấy em vẫn măi yêu anh. . Chẳng phải là "ngược Bắc", "xuôi Nam" mà là "xuôi Nam" "ngược Bắc".Phương hướng thế nào không quan trọng, quan trọng nhất vẫn là "phương anh".

    "Nơi nào em cũng nghĩ
    Hướng về anh một phương"


    Xuân Quỳnh buộc chặt bao "sợi nhớ, sợi thương" về phương anh. Thế mới biết t́nh yêu của chị nồng nàn, mănh liệt thế nào. Hướng về anh th́ có thể thay đổi nhưng với lời khẳng định chắc nịch "một phương" th́ nơi em hướng về là bất di bất dịch. Anh đă dành "hệ qui chiếu" của đời em. Cảm thông cho cuộc đời Xuân Quỳnh, ta càng hiểu thêm t́nh cảm của chị. Sự thành công của Xuân Quỳnh trong bài thơ "Sóng" không chỉ ở t́nh cảm chân thành nồng cháy mà c̣n ở nghệ thuật xây dựng h́nh tượng sóng_h́nh tượng trung tâm của bài thơ. Sóng trong bài thơ là một h́nh tượng kép. Sóng vừa là sóng biển vừa là sóng ḷng của người phụ nữ đang yêu. Cả hai cuộn tṛn
    trong sóng thơ dạt dào. H́nh tượng sóng rất đa dạng: lúc dữ dội, ồn ào, lúc dịu êm lặng lẽ cũng như tâm hồn em vậy dịu dàng lắm nhưng cũng đôi khi nồng cháy, mănh liệt. H́nh tượng sóng được Xuân Quỳnh xây dựng như thế động. Sóng luôn vận động với bao đối cực, bao chiều kích và cũng chính nhờ vậy mà nỗi ḷng của người phụ nữ đang yêu được bộc lộ chân thành hơn, chính xác hơn. Với h́nh tượng sóng Xuân Quỳnh đă góp vào thi đàn một h́nh tượng cũ mà mới. Mới bởi nó được ủ ấp những nỗi niềm của người phụ nữ. Và sẽ không quá lời khi ta khẳng định rằng, làm nên sự nghiệp Xuân Quỳnh không thể không có "sóng".

    Xuân Quỳnh đă đi về một miền miên viễn. Chị đă đi xa nhưng sóng th́ vẫn "bạc đầu thương nhớ" c̣n người th́ vẫn bên chị cùng một nỗi nhớ thương. Người phụ nữ ấy sống măi cùng sóng ḷng, sóng thơ và "sóng". Cũng như sóng kia, nhịp đập thủy triều có bao giờ nguội yên trong ngực biển, người nữ sĩ ấy vẫn măi bên đời cùng một nhịp đập yêu thương. Con sóng trong thơ chị phải đâu là con sóng một thuở mà nó đă thành con sóng ngàn đời: con sóng t́nh yêu, con sóng yêu thương, con sóng của một tâm hồn đẹp. Vỗ măi con sóng thương yêu!

  4. #4
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gửi
    1.721
    Cảm ơn
    4
    Thanked 102 Times in 78 Posts

    Đề 11: Phân tích h́nh tượng sóng trong bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh. Anh (chị) cảm nhận ǵ về vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong t́nh yêu qua h́nh tượng này?

    BÀI LÀM:


    "Sóng" được in trong tập "Hoa dọc chiến hào", xuất bản năm 1968 của nữ nhà thơ t́nh nổi tiếng Xuân Quỳnh. Bài thơ nói về tâm trạng, t́nh yêu mănh liệt của người con gái khi yêu. Hăy đến với bài thơ bằng nhạc điệu, bài thơ là âm điệu của một cơi ḷng bị sóng khuấy động, đang rung lên đồng nhịp với sóng biển. Rạo rực đến xôn xao, khát khao đến khắc khoải, có một h́nh tượng sóng được vẽ lên bằng âm điệu, một âm điệu dập dồn, ch́m nổi, miên man như hơi thở chạy suốt cả bài.

    Sắc điệu trữ t́nh của bài thơ được gợi lên từ h́nh tượng sóng. Cả bài thơ là những con sóng tâm t́nh xôn xao trong ḷng người con gái đang yêu khi đứng trước biển ngắm nh́n những con sóng vô hồi, bất tận. Sóng là một h́nh tượng ẩn dụ, đó là sự hóa thân của cái tôi trữ t́nh của nữ sĩ, lúc th́ ḥa nhập, lúc sự phân thân của "em" - người con gái đang yêu một cách say đắm. Sóng đă khơi gợi một hồn thơ phong phú, hồn nhiên, sôi nổi. Thông qua h́nh tượng sóng, Xuân Quỳnh đă có một cách nói rất hay để diễn tả tâm trạng của người con gái.

    Thật tự nhiên và thơ mộng, con sóng nhớ bờ nên ngày đêm sóng vỗ, sóng thao thức với thời gian và đại dương. Cũng giống như bên đợi thuyền, thuyền nhớ bến, lúc nào ḷng người con gái cũng bồi hồi nhớ thương:

    "Ḷng em nhớ đến anh
    Cả trong mơ c̣n thức"


    "C̣n thức" tức là lúc nào em cũng nh́n thấy rơ h́nh bóng anh, ánh mắt anh ... Một t́nh yêu cuồng nhiệt, say mê. Con sóng khao khát được đến bờ để được vỗ về, ve vuốt:

    "Hôn thật khẽ thật êm
    Hôn êm đềm măi măi"
    (Xuân Diệu)


    Cũng như "em" muốn được gần bên anh, được ḥa nhịp vào trong t́nh yêu với anh. T́nh yêu của người con gái thật mănh liệt, nồng nàn. Sóng xa vời cách trở vẫn t́m được tới bờ, cũng như anh và em sẽ vượt qua mọi khó khăn để đến với nhau, để sống trong hạnh phúc trọn vẹn của lứa đôi.

    "Ở ngoài kia đại dương
    Trăm ngàn con sóng nhỏ
    Con nào cũng tới bờ
    Dù muôn vời cách trở"


    Người con gái đă bày tỏ ḷng ḿnh một cách chân thành, say đắm, thắm thiết. Chân thật và thủy chung là đặc tính của t́nh yêu:

    "Dẫu xuôi về phương Bắc...
    Hướng về anh một phương".


    Sóng đă bày tỏ nỗi ḷng của người con gái, khát vọng được sống hết ḿnh trong một t́nh yêu đẹp, sắt son thủy chung. Người ta thường nói xuôi vào Nam, ngược ra Bắc; nhưng ở đây, trong nỗi nhớ chất đầy nhà thơ lại dùng ngược lại. Từ đó nhà thơ đă nói đến nỗi nhớ bất chấp vạn vật, khoảng cách, t́nh yêu là sự gặp gỡ giữa hai tâm hồn không có giới hạn. Cuối cùng sóng đă nói hộ nhà thơ nỗi khát vọng được sống trọn vẹn trong t́nh yêu. T́nh yêu lứa đôi đẹp đẽ, nồng nàn như trăm ngàn con sóng nhỏ giữa đại dương mênh mông, muốn được hoà nhịp vào biển lớn của t́nh yêu cộng đồng:

    "Làm sao được tan ra
    Thành trăm con sóng nhỏ
    Giữa biển lớn t́nh yêu
    Để ngàn năm c̣n vỗ"


    Cả bài thơ, nếu kể đến nhan đề, th́ tác giả đă mười một lần nhắc đến từ "sóng". Sóng vỗ như tâm t́nh xôn xao. Sóng cho ta nhiều ấn tượng về âm điệu của sóng, cũng như giọng điệu tâm t́nh, nhịp điệu của bài thơ. Thơ hồn nhiên, liền mạch về cảm xúc, trong sáng trong cách diễn đạt của tác giả. Sóng vỗ trên đại dương mênh mông cũng chính là sóng vỗ trong ḷng người con gái.

    Từ h́nh tượng "sóng" Xuân Quỳnh cho ta thấy rơ vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong t́nh yêu. Với t́nh yêu chân thành, thắm thiết, người phụ nữ muốn sống hết ḿnh, sống trọn vẹn trong t́nh yêu đẹp. Yêu là nhớ ngày mong đêm, người phụ nữ khát khao được ḥa nhập gần gũi trong t́nh yêu ấy. Họ yêu thật nồng nàn, say đắm, thủy chung. Xuân Quỳnh viết bài thơ này vào những năm 1967, khi cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam ở vào giai đoạn ác liệt, khi thanh niên trai gái ào ào ra trận "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước", khi sân ga, bến nước, gốc đa, sân trường diễn ra những cuộc chia ly màu đỏ. Cho nên có đặt bài thơ vào trong hoàn cảnh ấy ta mới càng
    thấy rơ nỗi khát khao của người con gái trong t́nh yêu.

    "Ôi con sóng nhớ bờ
    Ngày đêm không ngủ được"


    Đọc xong bài thơ Sóng ta càng ngưỡng mộ hơn những con người phụ nữ Việt Nam, những con người luôn thủy chung, luôn sống hết ḿnh v́ một t́nh yêu. Xuân Quỳnh xứng đáng là một nhà thơ nữ của t́nh yêu lứa đôi, bà đă làm phong phú hơn cho nền thơ nước nhà.

  5. #5
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gửi
    1.721
    Cảm ơn
    4
    Thanked 102 Times in 78 Posts

    Đề 12: Cảm nhận bài "Đàn ghi ta của F.G.Lorca" của Thanh Thảo.

    BÀI LÀM:


    Là một nhà thơ lớn của Tây Ban Nha hiện đại, Lorca đă đem được chất dân gian Anđaluxia cùng sức sống của xứ sở ḅ tót vào thơ ḿnh. Lại thạo dân nhạc, ông thường thích đi khắp xứ như một gă Digan đơn độc mà hát lên những bài thơ của ḿnh như những khúc romance, ballad. Bởi vậy, Lorca như một nghệ sĩ kép : thi si kiêm nhạc sĩ. Đàn ghi-ta của Lorca chính là một lối thơ mà ở đó lời thơ đă ḥa vào nét nhạc, h́nh tượng thơ đă cùng cấu trúc nhạc bay đôi. Thậm chí, để tiếng nói của thơ ḿnh thêm phong phú, Thanh Thảo c̣n mô phỏng những âm thanh từa tựa các nốt đàn ghita, mô phỏng cả lối diễn tấu vẫn thường đệm cho người hát khi diễn nữa.

    Thanh Thảo đă chọn thời điểm bi phẫn nhất của cuộc đời Lorca cho cảm hứng của thi phẩm: lúc ông bị bắn chết. Lorca luôn dự cảm và bị ám ảnh khôn nguôi bởi cái chết. Nhưng ông cũng không thể ngờ cái chết phũ phàng nhất đă ập xuống thân phận ḿnh. Đối với ḷng tiếc thương, mọi cái chết đều ngang trái. Cái chết của Lorca càng ngang trái bội phần. V́ ông bị phatxit giết hại khi mới 37 tuổi, xác ông c̣n bị chúng quẳng xuống một cái giếng để phi tang. Mất mát kinh hoàng là thế, nhưng oái oăm thay, cái chết c̣n là một giải thoát. Giải thoát bất đắc dĩ nhưng hoàn toàn. Hẳn suy tư Thanh Thảo đă bị vây ám giữa những phản trái kia của cái chết. Nhất là lúc anh đọc được cái câu như một lời nguyện cuối, một di chúc viết sớm của Lorca : Khi tôi chết hăy chôn tôi với cây đàn ghi-ta. Và thế là thi phẩm đă tự chọn cho nó một h́nh hài: vừa là thơ viếng vừa như một bi ca.

    Thanh Thảo chọn viết về Lorca toàn là những thi ảnh rất siêu thực trong thế giới nghệ thuật của chính Lorca, mà sau những lăng quên chúng vẫn không thôi đeo bám Thanh Thảo : đàn ghi- ta, bài ca mộng du, con ngựa đen, vầng trăng đỏ, chàng kĩ sĩ đơn độc, áo choàng đấu sĩ, sắc máu đấu trường, cô gái Di gan, lá bùa hộ mệnh, hoa tử đinh hương ( hoa lila )... Và, tất nhiên, làm sao có thể thiếu được ḍng sông cùng với cỏ mọc hoang vốn là những h́nh ảnh - biểu tượng từ lâu vẫn miên man với ng̣i thơ Thanh Thảo . Nhờ đó, h́nh tượng Lorca và suy cảm Thanh Thảo đă nói chung một thứ tiếng là ḍng thi liệu đă trộn vào nhau đó.

    Trong bài thơ, Thanh Thảo có dùng những lối kết hợp khá phổ biến ở thơ tượng trưng. Ta gặp những Tiếng đàn bọt nước, tiếng ghi-ta nâu, tiếng ghi-ta lá xanh, tiếng ghi-ta tṛn, tiếng ghi- ta ṛng ṛng máu chảy, về miền đơn độc, vầng trăng chếnh choáng, chôn cất tiếng đàn, đường chỉ tay, ḍng sông rộng... Nhiều thi ảnh được tượng trưng hoá, khiến chúng có dạng một h́nh thể chứa nhiều h́nh ảnh. Đường chỉ tay là hiện thân của thiên mệnh. Đường chỉ tay đă đứt tượng trưng cho cú giáng phũ phàng trái ngang của số mệnh. Chiếc ghi-ta tượng trưng cho âm nhạc và thơ ca. Nó là cây đàn lia của chàng nghệ sĩ tài hoa. Chiếc ghita màu bạc là biến ảnh của chiếc ghi-ta nâu khi đă sang cơi khác. Đúng hơn, là chiếc ghi-ta đă sang cơi siêu sinh. Thi sĩ bơi trên chiếc ghi-ta chính là bơi trên con thuyền của thi ca đang vượt qua bến bờ sinh tử. Lá bùa cô gái di-gan là cái đẹp huyền bí. Xoáy nước là tai hoạ định mệnh trên ḍng sông của số phận, cũng là cái ḍng sông ranh giới giữa cơi sống và cơi chết, giữa thực tại và hư vô. Hành động ném lá bùa và ném trái tim đều giàu hàm ư tượng trưng về sự giă từ, sự giải thoát của Lorca... Lối viết này không c̣n xa lạ đối với người đọc thơ Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Bích Khê, Chế Lan Viên hay nhóm Xuân Thu nhă tập hồi Thơ Mới. Nhưng, nó đă được Thanh Thảo dùng nhuần nhị và hài ḥa để tạo ra cho thơ ḿnh một cách nói hàm súc. Riêng cái câu giọt nước mắt vầng trăng trong đoạn bày tỏ nỗi đau xót và tiếc thương trước cái chết hết sức thương tâm của Lorca mà lời thơ kết hợp cả trượng trưng thơ Đường với tượng trưng Thơ Mới:

    "Không ai chôn cất tiếng đàn
    tiếng đàn như cỏ mọc hoang
    giọt nước mắt vầng trăng
    long lanh trong đáy giếng"


    cũng thấy được vẻ súc tích của nó. Có phải câu ấy được viết theo lối "nghệ thuật sắp đặt" không, mà cứ đơn giản y như đặt hai h́nh ảnh bên nhau : giọt nước mắt - vầng trăng thế thôi ? Giữa chúng chẳng có một quan hệ từ nào. Th́ ra, lắm khi, việc tước bỏ quan hệ từ lại là cách gia tăng nghĩa cho h́nh ảnh và lời thơ. V́ giờ đây, giữa chúng lại có thể phát sinh nhiều kiểu quan hệ, tạo ra nhiều làn nghĩa : 1) quan hệ đẳng lập : giọt nước mắt (và) vầng trăng ; 2) quan hệ song song : giọt nước mắt (với) vầng trăng ; 3) quan hệ so sánh : giọt nước mắt (như) vầng trăng ; 4) quan hệ sở hữu : giọt nước mắt (của) vầng trăng ; 5) quan hệ đồng nhất : giọt nước mắt (là) vầng trăng... Người đọc có một thoáng phân vân : vậy ư thực của câu thơ sẽ theo nghĩa nào ? Nhưng thoáng ấy sẽ qua nhanh bởi chỉ có câu trả lời duy nhất : nó phải là sự giao thoa và lung linh của tất cả các làn nghĩa ấy.

    Việc tái hiện sự kiện Lorca bị hành h́nh với những diễn biến phũ phàng, dù chỉ là chấm phá, cũng đă ít nhiều đem lại một cái "cốt" cho thi phẩm. Muốn kể, th́ cũng kể được đôi chút. Tâm tư người đọc bị cuốn ngay vào mạch kể qua các diễn biến ấy với những kinh hoàng, đau đớn và tiếc thương cho một con người vô tội, một bậc tài hoa oan khuất. Nhưng, dường như cái mạch kia c̣n tuân theo các bước phát triển thuộc về cấu trúc của một ca khúc nữa. Sự kiện Lorca bị hành h́nh vào bài thơ này đă dàn thành bốn phần nội dung với những khúc có dụng ư hẳn hoi về độ dài và tiết nhịp. Đầu tiên, phần giới thiệu, là h́nh ảnh Lorca theo lối ấn tượng : những tiếng đàn bọt nước / Tây - ban - nha áo choàng đỏ gắt / li-la li-la li-la / đi lang thang về miền đơn độc / với vầng trăng chếnh choáng / trên yên ngựa mỏi ṃn. Tiếp nối, phần phát triển, Lorca bị giết : Tây - ban - nha / hát nghêu ngao / bỗng kinh hoàng / áo choàng bê bết đỏ / Lorca bị điệu về băi bắn / chàng đi như người mộng du. Kế đó, phần cao trào, là nỗi tiếc thương trước sự thực phũ phàng : tiếng ghi-ta nâu / bầu trời cô gái ấy / tiếng ghi-ta lá xanh biết mấy / tiếng ghi-ta tṛn bọt nước vỡ tan / tiếng ghi-ta ṛng ṛng / máu chảy // không ai chôn cất tiếng đàn / tiếng đàn như cỏ mọc hoang / giọt nước mắt vầng trăng / long lanh trong đáy giếng. Và cuối cùng, phần kết, với h́nh ảnh Lorca ĺa bỏ tất cả và giải thoát : đường chỉ tay đă đứt / ḍng sông rộng vô cùng / Lorca bơi sang ngang / trên chiếc ghi-ta màu bạc // chàng ném lá bùa cô gái di-gan / vào xoáy nước / chàng ném trái tim ḿnh / vào lặng yên bất chợt / li-la li-la li-la...

    Sự có mặt của hai chuỗi li-la li-la li-la ở phần đầu và phần kết là thế. Thú thực, khi mới đọc bài thơ này trong tập Khối vuông Rubic, tôi thấy cái chuỗi kia là một nét lạ. Nhưng đọc kĩ hơn th́ thấy h́nh như có một nghĩa lư nào đó hay hay, chứ không hẳn chỉ là những con âm rỗng nghĩa. Nhưng thực hư ra sao,. Măi sau, đọc kĩ hơn vào cấu trúc mới vỡ lẽ : té ra đây lại là sự giao duyên ḱ thú của thơ và nhạc. Cụ thể là giao thoa giữa thanh âm và thi ảnh. Mở đầu là hai câu : Những tiếng đàn bọt nước / Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt. Thanh Thảochọn hai h́nh ảnh này khởi đầu một thi phẩm giống như kiểu tạo những âm chủ cho một nhạc phẩm. Chúng là những tương phản
    kín đáo mà gay gắt : âm thanh hồn nhiên - sắc màu chói gắt, tiếng đàn thảo dân - áo choàng đấu sĩ, vẻ khiêm nhường - sự ngạo nghễ, niềm hân hoan - nỗi kinh hoàng, nghệ thuật - bạo lực, thân phận bọt bèo - thực tại tàn khốc... Cặp h́nh ảnh cứ ngỡ tương phùng nào ngờ lại tương tranh. Nội dung chủ đạo mà thi phẩm triển khai sẽ là phận người trong một hiện thực đầy tranh chấp đối chọi như
    thế. Rồi ngay sau hai câu mào đầu đó là chuỗi âm thanh li-la li-la li-la. Nó như một chuỗi nốt đàn buông do người đệm đàn (ghi ta) lướt qua hàng dây để kết thúc phần dạo, đánh dấu khoảng ngắt cho người hát chính thức bắt lời tŕnh diễn ca khúc. Và thi phẩm cũng kết thúc bằng sự trở lại của chuỗi âm thanh ấy. Nó tựa những tiếng đàn đệm cuối cùng nhằm tạo những dư âm sau khi lời hát đă ngừng. Ngẫu hứng mà đầy xao xuyến. Khi âm thanh gây niềm xao xuyến th́ tự nó cũng chất chứa thi vị! Song, về nghĩa, lila lại chính là một loài hoa có màu tím ngát rất được người phương Tây ưa chuộng : hoa lila - tức hoa tử đinh hương. Chuỗi âm thanh kế tiếp gợi h́nh ảnh những tràng hoa chuỗi hoa bật tím liên tiếp. Đó là những đoá hoa người đời, người thơ thầm kính viếng hương hồn Lorca hay chính là ngàn muôn đoá hoa của sự sống đang nảy nở từ cái chết đau thương của nhà thi sĩ, thể hiện sức sống bất diệt của những giá trị chân chính trên cơi đời này ? Mỗi nghệ phẩm là một sản phẩm không lặp lại. Không chỉ nội dung, mà ngay cả h́nh thức.

    Năng lượng sáng tạo có thể tích tụ lâu dài trong cả ư thức và tiềm thức, bằng cả vốn sống, vốn văn hoá cùng kinh nghiệm nghệ thuật.Sáng tạo nghệ thuật là thế ; phải thế mới là nghệ thuật. Là người ham t́m ṭi cách tân, Thanh Thảo hiểu rơ điều đó. "Với những bài thơ hay - thi sĩ sáng tạo với toàn bộ thể chất và tâm linh ḿnh, và không biết cái nào bắt đầu trước : thể xác hay tâm linh. Đó là cả một quá tŕnh nhưng sáng tạo là khoảnh khắc. Khoảnh khắc ấy xảy ra càng đột ngột bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu".

  6. #6
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gửi
    1.721
    Cảm ơn
    4
    Thanked 102 Times in 78 Posts

    Đề 13: Phân tích bài "Người lái đ̣ sông Đà" của Nguyễn Tuân.

    BÀI LÀM:


    "Tây Bắc ư? Có riêng ǵ Tây Bắc.
    Khi ḷng ta đă hóa những con tàu
    Khi Tổ quốc bốn bề lên tiếng hát
    Tâm hồn ta là Tây Bắc chứ c̣n đâu".
    (Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên)


    Trong những ngày tháng cả nước rộn rang lên đường theo tiếng gọi của "tâm hồn Tây Bắc" để xây dựng lại một miền quê của Tổ quốc, có biết bao nhà văn, nhà thơ đă thực hiện quá tŕnh lột xác để đến với cách mạng. Một trong những nhà nghệ sĩ yêu nước ấy là Nguyễn Tuân - cây độc huyền cầm của nền văn học Việt Nam, người đă mang lại những tờ hoa thơm thảo cho đời. Nguyễn Tuân đến với Tây Bắc qua tùy bút Người lái đ̣ song Đà - một tác phẩm thể hiện rơ nét và sâu sắc phong cách nghệ thuật độc đáo của ông.

    Đến với nghệ thuật, đối với Nguyễn, là đến với sự t́m ṭi và sáng tạo. Bởi v́ "nhà văn là người sáng tạo lại thế giới". Nguyễn Tuân sợ ḿnh của ngày hôm nay giống với ḿnh của ngày hôm qua, sợ sự trùng lặp tầm thường. Chính v́ thế, ông đă lấy "chủ nghĩa" xê dịch "làm đề tài cho tác phẩm, làm mục đích cho cuộc đời ḿnh. Sống là để đi, để t́m hiểu những điều mới lạ. Trước cách mạng, một ḿnh với chiếc vali, Nguyễn đă bôn ba trên nhiều miền quê đất nước nhưng với tâm trạng của kẻ "thiếu quê hương", bất măn với cuộc đời. Đó cũng là tâm trạng chung của thời đại. Sau cách mạng, ông cũng xuôi ngược nhiều nơi nhưng với tinh thần của người yêu quê hương xứ sở, muốn góp phần vào công cuộc xây dựng Tổ quốc. Chính nhà văn đă từng nói đến Tây Bắc là để "đi t́m cái thứ vàng mười của màu sắc song núi Tây Bắc, và nhất là cái thứ vàng mười mang sẵn trong tâm trí tất cả những con người ngày nay đang nhiệt t́nh gắn bó với công cuộc xây dựng cho Tây Bắc thêm sáng sủa tươi vui và bền vững". Với t́nh yêu quê hương sâu nặng và bầu nhiệt huyết sôi nổi ấy, Nguyễn Tuân đă sử dụng uyển chuyển, tinh vi vốn ngôn ngữ phong phú của ḿnh để viết nên những tờ hoa thơm thảo về con người và thiên nhiên của miền sông núi này...

    Tác giả hay đi t́m cảm giác mạnh cho các giác quan. V́ vậy, những trang văn của ông thường mang theo âm điệu của những trận cuồng phong, băo tố. Nhưng không v́ thế mà chúng mất đi nét dịu hiền, thơ mộng. Qua ng̣i bút Nguyễn Tuân, sông Đà hiện lên vừa hung bạo nhưng cũng vừa trữ t́nh. Nó mang tâm địa xảo quyệt của thứ kẻ thù số một, có thể cướp đi mạng sống của bất cứ kẻ nào lỡ sa chân vào "thạch trận"... "Nước sông Đà reo như đun sôi lên một trăm độ... đá ở đây từ ngàn năm vẫn mai phục hết trong ḷng sông" và khi thấy chiếc thuyền nào nhô vào th́ chúng "nhỏm cả dậy để vồ lấy"... Nhưng cái hung hăn dữ tợn ấy vẫn không làm mất đi được nét trữ t́nh ở sông Đà. Miêu tả con sông ở những đoạn xuôi ḍng, ng̣i bút Nguyễn Tuân bỗng trở nên mềm mại, uyển chuyển, mang đậm chất thơ. "Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ t́nh, đầu tóc, chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo đốt nương xuân"... Trên con sông ấy, ông lái đ̣ xuất hiện, dữ dội và phi thường. Trong cuộc chiến đấu "một mất, một c̣n" với thác nước, tác giả cho ta thấy được cái tài hoa, trí dũng tuyệt vời của ông lái. Người lái đ̣ sông Đà là hiện thân của tác giả, chỉ thích lao vào những cuộc chiến đấu nguy hiểm với thác nước dữ dội mà không ưa xuôi thuyền trên ḍng sông êm ả... Giọng văn Nguyễn Tuân thật tự nhiên và phóng túng khi miêu tả hai trạng thái đối lập của cùng một sự vật. Sông Đà vừa trữ t́nh vừa hung bạo, vừa là "kẻ thù , vừa là "cố nhân". Dưới ng̣i bút tác giả, con sông không chết cứng mà vận động một cách mạnh mẽ, sôi nổi bằng những từ ngữ h́nh ảnh, tác động mạnh vào giác quan người đọc. Ông lái đ̣ cũng thế cũng xuất hiện một cách sinh động, rơ nét và sắc sảo...

    ...Đối với Nguyễn Tuân, "đă là văn th́ trước hết phải là văn". Văn phải đẹp, phải trau chuốt. Cái đẹp ấy đă chi phối cách nh́n của tác giả trên toàn bộ tác phẩm. Con người và sự vật, qua ng̣i bút Nguyễn Tuân, đều được khai thác trên phương tiện mĩ thuật và tài hoa nghệ sĩ. Nét đẹp sông Đà là một công tŕnh dày công sáng tạo của tạo hóa. Nó vừa hùng vĩ vừa nên thơ. Nó đẹp từ dáng dấp đến màu sắc. Cái áng tóc trữ t́nh của người thiếu nữ ấy là nguồn cảm hứng cho biết bao nhà thơ, nhà văn. Nước sông Đà cũng thế. "Mùa xuân ḍng xanh ngọc bích", "Mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi v́ rượi bữa". Con sông ấy đối với tác giả không chỉ đơn thuần là một cảnh đẹp thiên nhiên mà nó thật gợi cảm. Nó gây nên nỗi nhớ da diết cho những ai đă từng một lần gặp gỡ rồi lại đi xa. Gặp lại sông Đà, tác giả cảm thấy tâm hồn lâng lâng vui sướng như gặp lại cố nhân. "Chao ôi, trông con sông, vui như thấy nắng gịn tan sau ḱ mưa dầm, vui như nối lại chiêm bao đứt quăng". Và trong cái đẹp đẽ, thơ mộng của đất trời thiên nhiên, con người xuất hiện như một nghệ sĩ tài hoa. Ông lái điều khiển con thuyền một cách chủ động và thuần thục. Ông bao giờ cũng đứng trên thác sóng dữ dội mà bắt chúng phải qui hàng. "Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đ̣ gh́ cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chèo về phía cửa đá ấy".

    Nguyễn Tuân miêu tả h́nh ảnh ông lái điều khiển chiếc thuyền cứ như một nhạc sĩ đang kéo đàn viôlông. "Người lái đ̣ sông Đà" là một bước chuyển lớn trong phong cách Nguyễn Tuân. Trước cách mạng, nhà văn thường đi t́m đề tài cho tác phẩm bằng cách quay về với quá khứ, với một thời vang bóng đă qua. Nhân vật của Nguyễn là những Huấn Cao, quản ngục mang tâm trạng của kẻ "nào biết trên đầu có ai". Nhân vật "vang bóng một thời" là những vị anh hùng ngang dọc, "khinh bạc đến điều". Nhưng sau cách mạng, Nguyễn đă t́m thấy chất tài hoa nghệ sĩ ở những con người lao động hết sức b́nh dị, gần gũi. Huấn Cao giờ đây đă lùi vào dĩ văng chỉ c̣n đây một ông lái đ̣ cả đời gắn bó với công việc, với cuộc sống. H́nh ảnh ông lái lênh đênh trên sóng nước, chiến đấu với tử thần bằng cây sào bé nhỏ gây xiết bao xúc động trong ḷng người đọc. Nguyễn Tuân đă trao tặng ông chiếc huy chương anh hùng lao động trên ngực như một niềm hănh diện thiêng liêng. Ông lái xuất hiện trước mắt chúng ta như những người nghệ sĩ tài hoa trí dũng song toàn. Miêu tả h́nh ảnh người đời thường lái đ̣, Nguyễn Tuân đă thể hiện tấm ḷng trân trọng, cảm phục những con người góp phần vào công cuộc xây dựng Tổ quốc.

    Trong việc tái hiện lại h́nh ảnh sông núi Tây Bắc và người lái đ̣, Nguyễn Tuân đă kết hợp nhiều phương tiện của nhiều ngành nghệ thuật: hội họa, điêu khắc, điện ảnh, âm nhạc... Mọi vật, mọi sự như hiện ra trước mắt ta sừng sững và sinh động. "Ngoặt khúc sông lượn, thấy sóng bọt đă trắng xóa cả một chân trời đá". Âm thanh sóng vỗ vào đá, vào mạn thuyền, sóng dậy lên thành thác núi, "một anh bạn quay phim táo tợn... đă dũng cảm ngồi vào một cái thuyền thúng tṛng trành" rồi lao xuống "đáy hút sông Đà" để quay phim Tất cả những ǵ nhà văn viết ra, những ǵ nhà văn tưởng tượng và sáng tạo nên đều như được dựng lại trước người đọc. Tiếp xúc với tác phẩm Người lái đ̣ sông Đà của Nguyễn Tuân, ta như đang đứng trước con sông ấy, chứng kiến cuộc vật lộn giữa ông lái với thác nước, chứng kiến từng đoạn sông dữ tợn, lởm chởm những đá ngầm, đá nổi và cả những đoạn sông êm ả, trữ t́nh. Trong đoạn văn, Nguyễn Tuân dùng cả những kiến thức về quân sự, vơ học... Cuộc chiến đấu giữa người lái với thạch trận sông Đà diễn ra thật hấp dẫn, li ḱ: "Mặt nước ḥ la", sóng nước "đá trái mà thúc gối vào bụng và hông thuyền". Nó "bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đ̣ đ̣i lật ngửa ḿnh ra"... Tất cả những từ ngữ và h́nh ảnh mang đậm nét "quân sự, vơ thuật" ấy như gợi lại trước mắt ta quan cảnh một cuộc hỗn chiến nguy hiểm, đầy hồi hộp hấp dẫn.

    Nguyễn Tuân từng được mệnh danh là nhà văn của sự tài hoa và uyên bác. Nguồn tri thức khổng lồ của ông về lịch sử, khoa học, địa lí, sinh học... thường được tuôn trào dào dạt trong tác phẩm. Với Người lái đ̣ sông Đà, tác giả đă đưa ta đến với một miền quê hương Tổ quốc. Vị trí sông Đà, lịch sử sông Đà đă được Nguyễn Tuân giới thiệu bằng những trang viết đầy tính "uyên bác". Nhiều địa danh được tác giả nhắc đến trong tác phẩm như Tà Mường Vát, Sơn La, Hát Loóng... Tất cả, tất cả chứng tỏ sự hiểu biết rất rộng và rất sâu của tác giả khi viết về sông Đà... Khả năng diễn đạt và vốn ngôn ngữ của Nguyễn Tuân thật phong phú. Mỗi từ ngữ khi đưa vào câu văn dường như đă được chắt lọc, gọt giũa cẩn thận. Ông đă sáng tạo nên nhiều từ ngữ mới lạ, độc đáo. Giọng văn đôi khi có vẻ thô kệch, dàn trải nhưng lại hết sức cô đúc và tự nhiên.

    Nguyễn Tuân không những viết nên những trang văn đầy tài hoa và lịch lăm mà ông c̣n sáng tạo nên những trang thơ cho đời. Đọc những ḍng viết về con sông Đà trữ t́nh, ta không khỏi ngỡ ngàng, ngạc nhiên trước giọng văn êm ái, dịu dàng như thơ của Nguyễn Tuân. Viết về người lái đ̣ sông Đà, viết về một vùng quê hương Tổ quốc, Nguyễn Tuân đă thể hiện nguồn xúc cảm yêu thương tha thiết đối với người lao động và thiên nhiên đất nước. Sông Đà càng đẹp, càng sinh động, ông lái càng anh dũng, ngoan cường trong công việc ta càng thấy được tấm ḷng nhân đạo sâu sắc của nhà văn - Người lao động trong tác phẩm Nguyễn Tuân thật b́nh dị từ công việc đến h́nh dáng, cách ăn nói. Nhưng ông ta lại là người anh hùng trước mắt Nguyễn Tuân. Nhà văn đă phát hiện ra trong con người b́nh dị ấy chất nghệ sĩ tài hoa, dám đương đầu với sóng to gió lớn để chèo chống con thuyền qua sông. Ông lái hiện lên trong tác phẩm là người lao động hăng hái, quên ḿnh v́ công việc.

    Cuộc sống quanh ta vốn dĩ rất tầm thường, cũ kĩ. Ngày lại qua ngày, mây vẫn bay và gió vẫn thổi... nhưng chính nhà văn là người mang lại cho ta một thế giới mới, tinh khôi, ḱ diệu. Nguyễn Tuân cũng là một nhà văn, một người góp phần sáng tạo lại thế giới. Văn chương của Nguyễn Tuân đă mang đến cho chúng ta một chân trời huyền bí riêng biệt, hấp dẫn và độc đáo. Đó là chân trời của cái đẹp, của sự tài hoa và uyên bác.

  7. #7
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gửi
    1.721
    Cảm ơn
    4
    Thanked 102 Times in 78 Posts

    Đề 14: Cảm nhận "Người lái đ̣ Sông Đà" của Nguyễn Tuân.

    BÀI LÀM 1:

    Người lái đ̣ sông Đà của Nguyễn Tuân là bút kư đặc sắc, kết quả của chuyến thâm nhập thực tế vùng sông Đà 1958 - 1960 của nhà văn, in trong tập bút kư Sông Đà. Cảm hứng gắn bó với mảnh đất và con người Tây Bắc đă in đậm trong h́nh ảnh người lái đ̣ nghệ sĩ và con sông Đà vừa hùng vĩ vừa nên thơ.

    Bản thân Nguyễn Tuân khi viết nên tác phẩm này đă thực hiện hoàn tất một hành tŕnh khẳng định phong cách tuỳ bút độc đáo của nhà văn khi đi theo con đường cách mạng. Vốn sống và tài năng của người nghệ sĩ tài hoa này đă gặp được môi trường Tây Bắc với bao nhiêu vẻ đẹp tiềm ẩn trong mảnh đất và con người, từ đó giúp ông có những phát hiện mới mẻ, tô đậm những ấn tượng kỳ vĩ nên thơ về Tây Bắc trong ḷng bạn đọc.

    Thiên tuỳ bút Người lái đ̣ sông Đà trước hết đem lại cho chúng ta ấn tượng đặc biệt về h́nh ảnh và công việc của ông lái đ̣ Lai Châu, người mà nhà văn đă gọi là bạn trên tinh thần "qui thuận quần chúng một cách tự giác" (chữ dùng của Nguyễn Tuân). Ông lái đ̣ là h́nh ảnh một người lao động mà sông nước đă in dấu vào trong từng chi tiết ngoại h́nh : tay lêu nghêu như cái sào, chân khuỳnh ra như kẹp lấy một cái bánh lái tưởng tượng, giọng nói ào ào như thác lũ sông Đà, nhăn giới ṿi vọi như nh́n về một bến xa nào đó... Tuổi tác không làm mất đi sức sống mạnh mẽ và ḷng yêu mến gắn bó với công việc của ông. Bằng cách tạo ấn tượng đặc biệt về nhân vật từ ban đầu, nhà văn dẫn dắt chúng ta vào thế giới sông nước chứa đựng bao thử thách hiểm nguy nhưng có sức cuốn hút riêng với những người ưa thích phiêu lưu mạo hiểm. Bằng thủ pháp của điện ảnh, bằng ngôn từ của ḿnh, Nguyễn Tuân đă dựng lên cả một thế giới sông nước sinh động : «nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đ̣i nợ xuưt bất cứ người lái đ̣ sông Đà nào tóm được qua đấy". Ấy vậy nhưng ông lăo đă tuổi bảy mươi đă bao phen thể hiện tài năng vượt thác leo ghềnh, vượt qua thử thách hiểm nguy mà vẫn c̣n trẻ tráng, dẻo dai !

    Câu chuyện vượt sông Đà đă được nhà văn kể lại bằng tất cả niềm hứng khởi về sức mạnh con người chiến thắng thiên nhiên, với tất cả kịch tính, cao trào để tôn vinh nghệ thuật chinh phục thác đá sông Đà. Con sông Đà dữ với thần sông tướng đá bủa giăng thế trận vây lấy chiếc thuyền đơn độc được nhà văn miêu tả bằng ngôn ngữ phong phú của tiểu thuyết chương hồi như gợi cuộc phá vây của mănh tướng Triệu Tử Long xông vào trận quân Tào Tháo, bên cạnh đó nhà văn có những ḍng mô tả chân dung bằng giọng văn rất hóm hỉnh của riêng ḿnh : "Mặt ḥn đá nào trông cũng ngỗ ngược, ḥn nào cũng nhăn nhúm méo mó hơn cả cái mặt nước chỗ này...". Cuộc đối đầu giữa con người trên chiếc thuyền đơn độc với "boongke ch́m và pháo đài nổi" trong "cuộc giáp lá cà có đá dàn trận địa sẵn" có sức hấp dẫn đặc biệt. Có lẽ nhà văn đă h́nh dung ra không khí của những hội vật truyền thống khi miêu tả các cuộc đấu sức, đấu trí và đấu sự nhanh nhẹn giữa người và đá nước. Cuộc đấu có miếng, có mưu, cuối cùng phần chiến thắng thuộc về con người, bởi lẽ "Ông đă thuộc quy luật phục kích của lũ đá nơi ải nước hiểm trở này". H́nh ảnh b́nh thường của người lao động, vật lộn với sóng nước đă được Nguyễn Tuân nâng lên ngang hàng danh tướng "biết ḿnh biết ta trăm trận trăm thắng". Nhưng điều tác giả tô đậm nét hơn ở ông lái đ̣ chính là chất nghệ sĩ toát lên từ công việc đối mặt với hiểm nguy đă trở thành b́nh thường. Ngay sau khoảnh khắc chiến thắng sức mạnh của thác đá, sóng dữ, th́ "sóng thác xèo xèo tan trong trí nhớ. Sông nước lại thanh b́nh". Đây mới chính là ông lái đ̣ mang đậm nét Nguyễn Tuân. Con người chiến đấu với sông Đà dữ cũng chỉ là để mưu sinh, "ngày nào cũng giành lấy cái sống từ tay những cái thác", nên những con người này cũng yêu mến ḍng sông đă cho họ những "cá anh vũ, cá dầm xanh", những hầm cá hang cá "túa ra đầy tràn ruộng". Sông Đà dữ th́ có "diện mạo và tâm địa của kẻ thù số một", nhưng khi sông nước thanh b́nh, vẻ đẹp nên thơ gợi cảm của
    ḍng sông lại hiện về nguyên vẹn.

    Nhà văn đă dành những trang viết thấm đẫm chất trữ t́nh để miêu tả vẻ đẹp dịu dàng của ḍng sông mang trong ḷng những huyền sử thuở khai thiên lập địa của cha ông. "Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ t́nh, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn khói núi Mèo đốt nương xuân.", "Mùa xuân ḍng xanh ngọc bích...", "mùa thu nước sông Đà lừ lừ chín đỏ như da mặt người bầm đi v́ rượu bữa"...Đó là thời điểm cho câu chữ Nguyễn Tuân lai láng chất thơ ca ngợi vẻ đẹp của ḍng sông, bằng cái nh́n và t́nh cảm của một người tự nhận sông Đà như một "cố nhân". Không gian lắng đọng trong vẻ đẹp của "bờ sông Đà, băi sông Đà, chuồn chuồn bươm bướm sông Đà". Vẻ đẹp ấy như trang nghiêm trong mạch Đường thi cổ điển, vừa lắng đọng hoài vọng về một thuở Lư Trần Lê, vừa bâng khuâng cảm giác về sự sống nảy lộc đâm chồi : "Thuyền tôi trôi qua một nương ngô nhú lên mấy lá ngô non đầu mùa. Mà tịnh không một bóng người. Cỏ gianh đồi núi đang ra những nơn búp. Một đàn hươu cúi đầu ngốn búp cỏ gianh đẫm sương đêm. Bờ sông hoang dại như một bờ tiền sử. Bờ sông hồn nhiên như một nỗi niềm cổ tích tuổi xưa". Nhà văn đă để cho ḍng cảm xúc dào dạt thốt lên thành lời đối thoại im lặng với thiên nhiên, bờ băi ven sông, dường như con người muốn hoà vào cùng cảnh vật, để chiêm ngưỡng vẻ đẹp đầy sức cuốn hút của ḍng sông.

    Ng̣i bút nhà văn đến lúc này mới thật sự tung hoành trong sự say sưa khám phá cội nguồn, kể về lịch sử ḍng sông gắn với cuộc sống và con người Tây Bắc, những người đă đón nhận những tặng vật hào phóng của sông Đà. Cảm xúc từ thực tại của Nguyễn Tuân c̣n khơi nguồn cho những mơ ước mang tính dự báo về tương lai, biến sức mạnh của ḍng sông trái tính trái nết thành nguồn thủy điện dồi dào. Rơ ràng, thực tại cuộc sống mới đă giúp cho Nguyễn Tuân có những dự cảm chính xác, có niềm tin vững chắc vào những con người đang xây dựng một chế độ mới, đem lại sinh khí mới cho cuộc sống ở sông Đà.

    Với Người lái đ̣ sông Đà này, Nguyễn Tuân đă ghi dấu ấn không trộn lẫn của ḿnh ở thể loại tùy bút, bám sát hiện thực, say mê khám phá những nét ấn tượng, những vẻ đẹp tiềm ẩn từ hiện thực. Hơn thế nữa, tác phẩm c̣n đánh dấu sự vững vàng trong tư tưởng t́nh cảm của nhà văn, sự nhạy cảm tinh tế của một tâm hồn nghệ sĩ yêu đất nước, yêu con người lao động, yêu và tin vào cách mạng, vào con đường dân tộc đang hướng tới. Tấm ḷng ấy, tài năng ấy của Nguyễn Tuân thật đáng trân trọng.

  8. #8
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gửi
    1.721
    Cảm ơn
    4
    Thanked 102 Times in 78 Posts

    Đề 15: H́nh tượng người lái đ̣ trong tuỳ bút " Người lái đ̣ sông Đà" của Nguyễn Tuân.

    BÀI LÀM:

    " Niễm vui của nhà văn chân chính là niềm vui của người dẫn đường đến xử sở của cái đẹp" ( K. Pautopxki). Với tuỳ bút " Người lái đ̣ sông Đà", ng̣i bút của Nguyễn Tuân như nở hoa trong sự hoà phối diệu ḱ giữa cái đẹp của ngôn từ với ánh sáng tuyệt mĩ của chiều sâu h́nh ảnh, dẫn dắt người đọc đến với vẻ đẹp hung bạo mà trữ t́nh của thiên nhiên Tây Bắc, nhất là vẻ đẹp vàng 10 nơi tâm hồn con người mà nhà văn tập trung khắc hoạ qua h́nh tượng người lái đ̣. Tác phẩm được thai nghén trong chuyến đi thực tế Tây bắc năm 1958, được rút ra từ tậptuỳ bút" Sông đà" (1960) là kết tinh của tấm ḷng và tài năng nhà văn với những khát khao truy t́m "chất vàng 10" trong con người lao động vùng Tây bắc- thứ vàng đă được thử lửa.

    Nếu Thạch Lam truy t́m cái đẹp trong cuộc đời nghèo khổ, b́nh dị, th́ Nguyễn Tuân thường say mê với những vẻ đẹp phi thường, tuyệt mĩ. Trong quan niệm của nhà văn ngay cả những người b́nh thường khi thực thi những công việc b́nh thường cũng phải đạt tới đỉnh cao của sự tài hoa, khéo léo. Trước CM,Nguyễn Tuân chỉ thấy vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ ở những con người đặc tuyển, những con người quá khứ chỉ c̣n 1 thời vang bóng. Đó là những Huấn Cao với tài bẻ khoá vượt ngục, viết chữ đẹp; là kẻ ăn xin nổi tiếng với thú thưởng thức trà....Th́ cách mạng tháng 8 nổ ra với bao cuộc vặn ḿnh lột xác, ông không chủ trương chơi ngông bằng văn chương
    nữa mà đi t́m cái độc đáo trong cuộc đời để làm ra cái độc đáo của văn chương. Vẫn tiếp cận sự việc ở phương diện văn hoá thẩm mĩ, vẫn đi sâu khám phá nét tài hoa nghệ sĩ, nhưng ng̣i bút tác gia đă hướng tới những người lao động b́nh thường của cuộc sống thực tại. Họ có thể chỉ là một người lái đ̣ sông Đà như đă được xây dựng trong tập tuỳ bút cùng tên.

    Trong cái nh́n độc đáo của Nguyễn Tuân, sông đà càng độc đáo, dữ dội, nham hiểm bao nhiêu th́ vẻ đẹp và phẩm chất của người lái đ̣ sông Đà càng nổi bật bấy nhiêu. Bởi thế, trước khi làm nổi bật "tay lái ra hoa" của người lái đ̣, nhà văn đă dành nhiều tài năng và tâm huyết để đặc tả cái hung bạo của thác dữ sông Đà như một cách dựng phông nền cho sự xuất hiện của nhân vật. Đúng như tiến sĩ Phan Huy Dũng nhận định" Như một sự độc đáo đi t́m những cái độc đáo", cái tài trong nghệ thuật ngôn từ của Nguyễn Tuân là đă làm sống dậy và nổi sóng tất cả những sự vật vô tri vô giác. Dưới ng̣i bút nguyễn Tuân, ngôn ngữ như cựa quậy, gào thét với sóng nước sông
    Đà. Thế giới cảnh vật qua lăng kính chủ quan của nhà văn như một bức ảnh bất động được phần mềm Flash update lại để tạo nên một đoạn băng động rơ ràng về đường nét, sắc nét về âm thanh. Dưới ng̣i bút ma lực của Nguyễn Tuân, ḍng sông Đà như một con thuỷ quái "nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đ̣i nợ suưt bất cứ người lái đ̣ nào đi qua quăng sông ấy", rồi "nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào". Nhưng hăy xem, âm thanh sông Đà mới ghê sợ. Âm thanh hay là h́nh ảnh? Nước hay là lửa? Tất cả bị hoà trộn trong một lối so sánh rất ấn tượng, sự so sánh tần tầng, bậc bậc mà có lẽ nếu ko phải Nguyễn Tuân với cái tài điều khiển ngôn ngữ, luyện đan ngôn từ của ḿnh th́ không ai có thể làm được như thế: "Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang ***g lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, rừng lửa cũng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng".Nhà văn lại liên tiếp dùng những từ chỉ thời gian như "đă thấy" " rồi lại" " lại thấy".... kết hợp với các từ ngữ so sánh cực tả để làm dậy sóng ṭ ṃ, phấn khích, hồi hộp căng thẳng chỉ đợi cái giác cảm giật ḿnh mạnh mẽ trước sự oà ra rất mực hùng tráng của cảnh vật, đặt người lái đ̣ vào vị trí của một nhân vật chính trong một bộ phim kinh dị. Ai bảo trong văn chương, nhịp độ thời gian không thể ứng khớp được với nhịp độ không gian, xúc cảm giữa nhà văn và nhân vật? Trước những cái mạnh mẽ cuồn cuộn của nước lũ sông Đà, ḍng ngôn ngữ của nhà văn cũng tuôn trào ào ạt mănh liệt, cuộn xoáy. Ông lái đ̣ trên chiếc thuyền kia cũng bị cuốn đi theo ḍng nước và ḍng chảy ngôn từ của một "ng̣i bút nở hoa".

    Nguyễn Tuân là nhà văn thường say mê vẻ đẹp tài hoa nghệ sĩ hơn đời, hơn người. Vẻ đẹp ấy được bộc lộ sâu sắc tinh tế và nổi bật nhất qua cảnh ông lái đ̣ đưa con thuyền vượt thác.Bằng cái nh́n sắc sảo của một nhà quân sự, Nguyên Tuân đă chỉ rơ sự chênh lệch lớn về cả thế và lực giữa ông lái đ̣ và thác dữ. Nếu thác dữ đông đảo hùng hậu, hiếu chiến với những "boong ke ch́m" "pháo đài nổi" "đá tướng" "đá quân" " luồng ống" " luồng chết"... đă giăng sẵn trận địa với những ṿng mai phục th́ ông lái đ̣ đă 70tuổi, đơn độc trên con thuyền độc mộc chỉ có mái chèo là vũ khí. Nhưng ḱ lạ thay, đối mặt với thác dữ, người lái đ̣ ấy vẫn chẳng hề nao núng: "Ông đ̣
    2 tay giữ mái chèo khỏi bị hất lên khỏi sóng trận địa phóng thẳng vào ḿnh". Đó cũng là bản lĩnh cứng cỏi hiên ngang, là cái gan góc b́nh tĩnh của một người lao động Tây Bắc.

    Đâu chỉ có vậy, ng̣i bút tài hoa của bậc thầy ngôn ngữ đă giúp Nguyễn Tuân khắc họa thành công không khí căng thẳng, quyết liệt trong trận chiến giáp lá cà giữa ông lái đ̣ với thác dữ. Mỗi ḥn đá, tảng đá nơi ải nước hiểm trở đều như có h́nh hài, tính cách của một tên địch quân nham hiểm hiếu chiến. Trận cận chiến được mở đầu bằng những hành động có vẻ tràn đầy tinh thần thượng vơ " một ḥn ấy trông nghiêng th́ y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến. Một ḥn khác lùi lại một chút và thách thức cái thuyền có giỏi th́ tiến gần vào".Thiên nhiên thực sự giữ vai tṛ chủ động trong việc mai phục con người, như được thể lấn tới " sóng nước như thể quân liều mạng vào sát nách mà đá trái, mà thúc gối vào bụng và hông thuyền" "ùa vào bẻ găy cán chèo vũ khí trên cánh tay" rồi có lúc" chúng đội cả thuyền lên".

    Những cảm nhận ấy đều hết sức tinh tế và chân thực, nó gợi nhớ tới sự chông chênh trong cuộc chiến với lũ cá mập của ông lăo Xan-ti-ago trong tác phẩm của Hêminhuê. Sóng thác không chỉ " bám lấy thuyền như đô vật túm thắt lưng ông đ̣ lại lật ngửa ḿnh ra giữa trận nước vang trời thanh la năo bạt" mà c̣n "đánh những miếng đ̣n hiểm độc nhất" là bất ngờ "bóp chặt lấy hạ bộ người lái đ̣". Dù vô cùng đau đớn, "mặt méo bệch đi" " mắt hoa đom đóm" nhưng ông lái đ̣ vẫn cố nén vết thương, " 2 chân vẫn kẹp chật lấy cuống lái". Ông lái đ̣ đă vượt lên trên nỗi đau thể xác của ḿnh bằng một tinh thần cứng cỏi, một bản lĩnh kiên cường- đó cũng là những vẻ đẹp vàng 10 của con người lao động Tây Bắc mà Nguyễn Tuân luôn thiết tha t́m kiếm, nâng niu.

    Sau khi phá xong ṿng vây thứ nhất, không một phút nghỉ tay nghỉ mắt, ông lái đ̣ đă "phá luôn ṿng vây thứ hai và đổi luôn chiến thuật".Như một chàng kị sĩ dũng mănh đang chinh phục loài thuỷ quái" "cưỡi lên thác nước sông Đà" và " cưỡi đến cùng như là cưỡi hổ" Nguyễn Tuân đă sử dụng hàng loạt các động từ mạnh như " nắm chặt lấy bờm sóng" " gh́ cương lái, phóng nhanh vào cửa sinh"... để làm nổi bật những hành động kiên quyết, dứt khoát, mạnh mẽ của ông lái đ̣ đă giúp cho con thuyền vượt qua được trùng vi thạch trận ṿng thứ hai, để lại sau ḿnh cả lũ đá tướng, đá quân " tiu nghỉu cái mặt xanh lè thất vọng". Bước vào ṿng vây tiếp theo, ông lái đ̣ khéo léo đưa con thuyền "phóng thẳng chọc thủng" lũ đá hậu vệ và phóng rất nhanh vào cửa sinh.

    Với tốc độ " vút, vút, cửa ngoài cửa trong. lại cửa trong cùng, thuyền như một mũi tên tre xuyên nhanh qua hơi nước, vừa xuyên vừa tự động lái được, lượn được"Với nghệ thuật so sánh, Nguyễn Tuân vừa vẽ ra những đường nét chuyển động tinh tế của chiếc thuyền, vừa cho thấy vẻ đẹp của một tay lái ra hoa- một nghệ sĩ trên sông nước.Với Nguyễn Tuân, h́nh ảnh ngwoif lái đ̣ sông Đà không chỉ là anh hùng lao động mà là người anh hùng trên chiến trận- trong cuộc chiến chạy đua khốc liệt với thiên nhiên và chinh phục thiên nhiên " h́nh ảnh cuộc chiến đấu gian lao trên chiến trường sông Đà" một "quăng thuỷ chiến ở mặt trận sông Đà". cảnh người lao động sông Đà vwotj thác gợi nhớ cảnh dũng tướng Triệu Tử Long đơn thwong độc mă phá ṿng vây Đương Dương cứu Ấm chúa.

    Qua cái nh́n tài hoa uyên bác của Nguyễn Tuân, trong suốt cuộc đời gần 70 tuổi của ḿnh ông lái đ̣ đă trên 100 lần xuôi ngược ḍng sông, trong đó khoảng 60 lần chính tay cầm lái, mà chỉ riêng đoạn sông từ Vạn Yên về xuôi đă có tới 73 con thác nham hiểm nên cả cuộc đời ông lái đ̣ đă hàng ngàn lần vượt qua thác dữ, hàng ngàn lần chiến thắng ḍng sông hung bạo. Dù chỉ đặc tả một lần vượt thác, nhưng Nguyễn Tuân vẫn làm nổi bật được toàn bộ cuộc đời tài hoa nghệ sĩ của ông đ̣. Bất giác thấy tràn về trong ḷng một ư thơ Tố Hữu:

    " Thác bao nhiêu thác cũng qua
    Thênh thênh là chiếc thuyền ta trên đời"


    Phải chăng, giác cảm của sự ngợi ca trân trọng h́nh ảnh người lái đ̣ cũng theo thuyền chữ của Nguyễn Tuân mà ào ạt ùa về? Cuộc chiến trên mặt trận sông Đà cam go là thế, nhưng hăy xem h́nh ảnh người lái đ̣ sau khi vượt thác. Một sự ung dung thanh thản tới ḱ lạ. Trong đêm nghỉ lại nơi hang đá, những con người ấy không chỉ "nướng ống cơm lam" mà c̣n "bàn về cá dầm xanh, cá anh vũ" cũng "chẳng thấy ai bàn thêm 1 lời nào về cuộc chiến thắng vừa qua nơi cửa ải nước đủ tướng dữ quân tợn vừa rồi".Chính tâm trạng ung dung thanh thản như thế đă giúp người đọc h́nh dung về tầm vóc của những người lao động anh hùng trên sóng nước sông Đà.
    Đọc tuỳ bút " Người lái đ̣ sông đà", hẳn không ai quên đựơc tư thế hiên ngang trên thác của " một người lái đ̣ sông đà có tự do" bởi "ông lái đă nắm chắc binh pháp của thần sông thần đá", mà nói như Ăng-ghen "Tự do là ư thức của cái tất yếu", và khi nắm được quy luật, người ta sẽ bước từ vương quốc của cái tất yếu sang vương quốc của tự do. Nhờ nắm đựơc quy luật tất yếu của thác dữ sông đà, người lái đ̣ luôn cảm thấy tự do và chiến thắng thác dữ. Phải chăng tác phẩm chính là khúc ca ca ngợi tư thế con người khi đứng trước thiên nhiên- một thiên nhiên mà trong quan hệ với con người muôn thủa vừa là thù vừa là bạn. Đó là thế giới thiên nhiên đă không
    ít lần đi vào thế giới văn học trong " Sơn Tinh, Thuỷ Tinh", trong "Ông già và biển cả" của văn gia người Mĩ với những cuộc chiến nổi tiếng trên sông nước.

    Có thể nói, khả năng làm chủ ngôn ngữ của Nguyễn Tuân thật phi thường. Muốn vẫy gió tuôn mưa, hô phong hoán vũ, để từ đó dựng cảnh cho người lái đ̣ xuất hiện với tất cả sự tài ba của một nghệ sĩ lái đ̣, một nhân vật đạt tới đỉnh cao của sự toàn mĩ trong công việc của ḿnh. Phải chăng đó chính là cái độc đáo tài hoa của Nguyễn Tuân- cái điều mà ông vẫn quan niệm "đă viết văn th́ phải viết cho hay, cho đúng cái tạng riêng của ḿnh. Văn chương cần sự độc đáo hơn bất ḱ một lĩnh vực nào khác....".

  9. #9
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gửi
    1.721
    Cảm ơn
    4
    Thanked 102 Times in 78 Posts

    Đề 16: Anh chị hăy phân bài "Ai đă đặt tên cho ḍng sông?" của Hoàng Phủ Ngọc Tường.

    BÀI LÀM 1:

    Ai đó đă từng viết "Đất nước có nhiều ḍng sông nhưng chỉ có một ḍng sông để thương, để nhớ như đời người có nhiều cuộc t́nh nhưng chỉ có một cuộc t́nh để măi măi mang theo". Vâng, "một ḍng sông để thương, để nhớ" của mỗi người rất khác nhau. Nếu tên tuổi Văn Cao gắn liền với sông Lô hùng tráng; nếu Hoàng Cầm là nỗi nhớ của ta khi ngang qua "Sông Đuống trôi đi một ḍng lấp lánh"; nếu Hoài Vũ măi là nhà thơ của con sông Vàm Cỏ đêm ngày thao thiết chở phù sa, th́ Hoàng Phủ Ngọc Tường đă song hành cùng sông Hương đi vào trái tim người đọc với "Ai đă đặt tên cho ḍng sông?."... Có một huyền thoại vọng về từ làng Thành Trung, một ngôi làng trồng rau thơm ở Huế: V́ yêu quư con sông xinh đẹp, người dân hai bên bờ sông Hương đă nấu nước của trăm loài hoa đổ xuống ḍng sông cho làn nước xanh thắm ấy măi măi thơm tho. Phải chăng đó là cách lư giải tên của Hương Giang - con sông gắn liền với Huế, gắn liền với t́nh yêu của Hoàng Phủ Ngọc Tường? Bút kư "Ai đă đặt tên cho ḍng sông?" được viết năm 1981, khi tác giả đă sống bên bờ sông Hương, sống trong ḷng Huế hơn 40 năm trời, t́nh yêu máu thịt đối với quê hương cứ lớn lên từng ngày và nó hiện hữu ở mọi thời gian, mọi không gian.

    Khi tác giả ngồi đọc truyện Kiều giữa mùa thu, trong một khu vườn xưa cổ, nơi có những loài hoa đang nở, trái cây đang chín, yên tĩnh và khoáng đạt - khu vườn tọa lạc trên vùng đất mà Nguyễn Du từng sống nên thiên nhiên của "mảnh đất Kinh- xưa" đă in bóng trong thơ Nguyễn, ngược lại sông Hương và Huế đă gợi cho tác giả h́nh tượng của cặp t́nh nhân lư tưởng: Kim- Kiều. Chưa bao giờ tôi nh́n thấy một ḍng chảy nào đáng yêu đến thế, sông Hương đến với Huế qua cái nh́n của Hoàng Phủ Ngọc Tường đă mang h́nh ảnh một cô gái mỹ miều đến với t́nh yêu.

    Hăy ngắm nh́n nàng trước khi gặp Huế, đó là "một cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại" "bản lĩnh và gan dạ" có một tâm hồn " tự do và trong sáng", đó là h́nh ảnh " bản trường ca của rừng già" rầm rộ và mănh liệt nhưng cũng có lúc "dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng", nàng đă chế ngự sức mạnh bản năng của ḿnh để đến lúc ra khỏi rừng già sẽ trở nên dịu dàng và trí tuệ.

    Để đến với Huế, sông Hương phải băng qua một hành tŕnh, phải chuyển ḍng liên tục, như một cuộc kiếm t́m thiết tha và rạo rực, vô vàn địa danh mà ḍng nước ấy đă trôi qua Ḥn Chén, Ngọc Trản, Nguyệt Biều, Lương Quán, Thiên Mụ... người con gái Di-gan ấy đă đột ngột uốn ḿnh theo một đường cong thật mềm nhưng "vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, vượt qua một ḷng vực sâu dưới chân núi Ngọc Trản, để sắc nước trở nên xanh thẳm", nàng vẫn c̣n mang một vẻ buồn trầm mặc như triết lư, như cổ thi cho đến khi gặp được tiếng chuông Thiên Mụ, nghe âm thanh bát ngát tiếng gà, từ ấy sông Hương rạng rỡ như nắng mới, nàng uốn một cánh cung thật nhẹ, đến khi giáp mặt với thành phố, đường cong ấy làm cho nàng "mềm hẳn đi, như một tiếng "vâng" không nói ra của t́nh yêu"- Cái phút ban đầu để đến với "người t́nh" của sông Hương như thế đấy! Nàng đă tự làm mới ḿnh để hiến tặng những ǵ đẹp nhất cho người yêu.

    Sông Hương - ḍng sông thuộc về một thành phố duy nhất - đă rời cuộc sống hoang dă của rừng để đến với Huế và chỉ Huế mà thôi, nàng như "sông Xen của Paris, sông Đanuưp của Buđapet..." chảy trong ḷng thành phố yêu quư của ḿnh nhưng khác ở chỗ nàng đẹp một cách huyền hồ như đang che khuôn mặt diễm kiều bằng tấm voan sương khói, nàng trôi lặng lẽ với ngh́n ánh hoa đăng vào hội rằm tháng 7 bồng bềnh chao nhẹ trên mặt nước như vương vấn một nỗi ḷng. Tôi chợt nhớ đến một câu nói "có những ḍng t́nh cảm, rất sâu nên rất đỗi lặng lờ", ḍng chảy êm đềm của sông Hương hay chính là t́nh yêu sâu lắng mà nàng dâng tặng cho thành phố Huế? Vẻ đẹp của sông Hương c̣n là vẻ đẹp của một nền văn hóa, vẻ đẹp của người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya ,toàn bộ nền âm nhạc cổ điển Huế đă được sinh sôi trên mặt sông này và hơn thế khắp lưu vực sông c̣n vang vọng những điệu ḥ dân dă, những điệu ḥ thấm đẫm tấm chung t́nh, thấm đẫm lời thề của sông Hương trước phút chia tay với Huế mà trôi về biển cả.

    Nhưng chẳng phải bao giờ sông Hương cũng là người con gái đằm thắm ,dịu dàng, mềm mại trong ḷng Huế, đă có một thời sông Hương "mang tên là Linh Giang, ḍng sông viễn châu đă chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía Nam" của Tổ quốc, vẻ vang soi bóng kinh thành Phú Xuân, "ḍng sông của thời gian ngân vang", của lịch sử viết giữa màu cỏ xanh, lá biếc... Sông Hương được nh́n như một người con gái đến với t́nh yêu, dâng tặng những vẻ đẹp mà ḿnh có được cho người yêu, đắm ḿnh trong t́nh yêu để khám phá và hoàn thiện bản thân. Từ một ḍng sông hoang dại, bí ẩn, nàng đă trở thành một sông Hương rất mực dịu dàng, rất mực tài hoa, rất mực kiên cường, rất mực hy sinh...

    Cho nên, từ khi có được sông Hương, Huế - chàng Kim của nàng- cũng có nhiều thay đổi. Từ hoang sơ với "cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại" hay kiêu hănh âm u với những lăng tẩm đền đài đồ sộ, đă hóa thành vẻ đẹp cổ kính mà thơ mộng, khiến người con của Huế dù đến Pari, Buđapét hay Leningrad vẫn đau đáu nhớ về một thành phố với nguyên dạng đô thị cổ, trải dọc hai bờ sông. Huế càng lung linh hơn khi sông Hương chở trong ḷng Huế những nét đặc thù của hội Hoa đăng, của ca Huế, man mác tiếng rơi của những mái chèo khuya. Có sông Hương, Huế trở thành biên thùy xa xôi của đất nước các vua Hùng, Huế chiến đấu oanh liệt bảo về biên giới phía Nam của Đại Việt, Huế là kinh thành của người anh hùng Nguyễn Huệ, Huế cùng sông Hương đi vào Cách mạng tháng 8 bằng những chiến công rung chuyển. Huế đă cống hiến xứng đáng cho Tổ quốc trong cuộc trường chinh máu lửa bên cạnh sông Hương - ḍng sông của sử thi đă tự hiến đời ḿnh làm một chiến công.

    T́nh yêu của sông Hương và Huế - một t́nh yêu lăng mạn và âm vang sức sống, một t́nh yêu như một cuộc t́m kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, bản hợp xướng diệu kỳ giữa thi ca và âm nhạc. T́nh yêu ấy được vun đắp bởi ng̣i bút tài hoa của Hoàng Phủ Ngọc Tường, đứa con thân yêu của Huế, yêu Huế, yêu sông Hương, nh́n ngắm sông Hương khi gần kề để phát hiện ra ḍng sông ấy "đang đổi sắc không ngừng dưới ánh nắng và mùi hương của hoa trái trong vườn", lúc xa xôi gần nửa ṿng trái đất, nh́n Nê va để sông Hương t́m về trong niềm nhớ.

    Sông Hương của Hoàng Phủ Ngọc Tường không chỉ mang vẻ đẹp trời phú mà c̣n ánh lên vẻ đẹp của con người, những tài nữ đánh đàn, những người dân Châu Hóa lái thuyền xuôi ngược, những người con anh dũng đă hi sinh, những Nguyễn Du, những bà huyện Thanh Quan, những Tố Hữu... đă viết thơ trên ḍng chảy long lanh in bóng mây trời. Cũng như t́nh yêu của sông Hương với Huế, t́nh yêu của Hoàng Phủ Ngọc Tường với sông Hương cũng là quá tŕnh dâng tặng, khám phá và hoàn thiện chính ḿnh. Tuy nhiên, v́ sông Hương là hóa thân của huyền thoại nên câu hỏi bâng khuâng của một người Hà Nội khi lặng lẽ ngắm nh́n ḍng nước : "Ai đă đặt tên cho ḍng sông?" vẫn là một câu hỏi lửng lơ chưa có lời giải đáp, câu hỏi đă thành tên cho một thiên bút kư tuyệt vời...

    BÀI LÀM 2:

    Theo lí thuyết thi pháp học hiện đại, h́nh tượng tác giả là sự nhập thân của ư thức người sáng tạo vào trong tác phẩm nghệ thuật. Nếu h́nh tượng nhân vật được xây dựng theo nguyên tắc
    hư cấu, được miêu tả theo một quan niệm nghệ thuật về con người và theo tính cách nhân vật th́ h́nh tượng tác giả trong bút kư, tùy bút được thể hiện theo nguyên tắc tự biểu hiện. H́nh tượng tác giả biểu hiện ở cái nh́n, sự quan tâm lựa chọn những chủ đề, đề tài, thể loại, ở ngôn ngữ và cách diễn đạt của chủ thể sáng tạo. H́nh tượng tác giả là một bộ phận quan trọng trong cấu trúc của tác phẩm.

    Ai đă đặt tên cho ḍng sông là tác phẩm cùng tên tập bút kư xuất bản vào năm 1986 của
    Hoàng Phủ Ngọc Tường sau hai tập bút kư Ngôi sao trên đỉnh Phu Văn Lâu (1971), Rất nhiều ánh lửa (1979). Tám bút kư trong tập sách vẫn được Hoàng Phủ Ngọc Tường viết với cảm hứng ngợi ca và âm hưởng sử thi bởi người yêu nước Hoàng Phủ Ngọc Tường luôn tri ân với sự hi sinh cao cả và những chiến công anh hùng của nhân dân. Nhưng điều đặc biệt ở Hoàng Phủ Ngọc Tường, ḷng yêu nước, tinh thần dân tộc c̣n gắn với t́nh yêu sâu sắc đối với thiên nhiên và truyền thống văn hoá của dân tộc. Ông đặc biệt trân trọng say mê văn hoá và lịch sử của mảnh đất quê hương.

    Bằng giọng văn đẹp, trầm lắng và tha thiết, Hoàng Phủ Ngọc Tường đă viết về ḍng sông quê
    hương, về hoa t*** quanh ông với một t́nh cảm gắn bó sâu nặng "Lớn lên ở Huế, không lúc nào tôi không cảm thấy thành phố này như một khu vườn thân mật của ḿnh" (Hoa tươi quanh tôi). Ai đă đặt tên cho ḍng sông? là bút kư trữ t́nh sâu lắng, thể hiện rơ phong cách thể loại của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Tác phẩm thể hiện sự uyên bác tài hoa của chủ thể sáng tạo trong cái nh́n liên tưởng cùng với những triết luận sâu sắc về quan hệ giữa ḍng sông và lịch sử, ḍng sông với thi ca nhạc hoạ, ḍng sông và con người xứ Huế.

    Thiên bút kư là cuộc hành tŕnh đi t́m cội nguồn ḍng sông Hương thơ mộng. Đồng hành
    cùng nhân vật "tôi" trong tác phẩm, người đọc mới biết những bước thăng trầm của ḍng sông
    Hương trong hành tŕnh đầy gian truân của nó "Trước khi về đến châu thổ êm đềm nó đă là một bản trường ca của rừng già, rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn, mănh liệt qua những ghềnh thác, cuộn xoáy như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn, và cũng có lúc nó trở nên dịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng" [1, tr.316.]. Bằng sức tưởng tượng miênman kết hợp với tư duy nghiên cứu, Hoàng Phủ Ngọc Tường đă cung cấp cho người đọc nhiều trithức lịch sử, địa lí phong phú về sự h́nh thành sông Hương từ nguồn ra biển. "Giữa ḷng TrườngSơn, sông Hương đă sống một nửa cuộc đời ḿnh" [1, tr.316], "ra khỏi vùng núi, sông Hương đăchuyển ḍng một cách liên tục...Từ ngă ba Tuần, sông Hương theo hướng Nam Bắc qua điện ḤnChén, vấp Ngọc Trản, nó chuyển hướng sang Tây Bắc, ṿng qua thềm đất Nguyệt Biều, LươngQuán rồi đột ngột vẽ một h́nh ṿng cung thật tṛn về phía Đông Bắc, ôm lấy chân đồi Thiên Mụ,xuôi dần về Huế" [1, tr.317]. Người đọc cảm thấy nhận thức của ḿnh được thỏa măn trong sự tra cứu tỉ mỉ và nghiêm túc những thông tin khoa học địa lí của tác giả.

    Nếu tư duy nghiên cứu chủ yếu cung cấp những dữ kiện, những tri thức về ḍng sông th́ tưduy nghệ thuật giúp những tri thức đó trở nên mềm mại hơn. H́nh tượng ḍng sông được diễn đạtbằng những h́nh ảnh so sánh, những liên tưởng tài t́nh độc đáo "sông Hương đă sống một nửacuộc đời của ḿnh như một cô gái di -gan phóng khoáng và man dại; ḍng sông mềm như tấm lụa; sông Hương đă trở thành một người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya..." [1, tr.316-318]. Có thể thấy bản lĩnh của nhà văn và phong cách cá nhân cũng đă được biểu hiện thông qua những liên tưởng. Sự kết hợp giữa tri thức khoa học với những hư cấu tài t́nh thông qua thủ pháp nhân cách hoá, để rồi ḍng sông Hương không c̣n là một sự vật vô tri vô giác nữa mà nó trở thành một nhânvật có tâm hồn có sức sống mănh liệt như con người trong những bước thăng trầm của cuộc đời.Gs Trần Đ́nh Sử khi nghiên cứu bút kư Ai đă đặt tên cho ḍng sông? đă ví "hành tŕnh của sôngHương từ nguồn ra biển là hành tŕnh của tâm hồn xứ Huế" với những cung bậc mănh liệt và lắngsâu, trữ t́nh và b́nh thản trí tuệ [2, tr.294].

    Từ phương diện h́nh tượng tác giả, những triết luận về ḍng sông trong mối quan hệ với
    lịch sử cho thấy một chủ thể sáng tạo am hiểu sâu sắc lịch sử. Hoàng Phủ Ngọc Tường đă lật t́mtrong tư liệu lịch sử những sự kiện có liên hệ với ḍng sông và ông đă thấy "sông Hương đă sốngnhững thế kỷ vinh quang với nhiệm vụ lịch sử của nó". Ḍng sông như người dũng sĩ trấn giữbiên thuỳ đă nhiều lần chiến đấu oanh liệt bảo vệ biên giới phía Nam của Tổ quốc Đại Việt rồi vẻvang soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ [1, tr.322.], cùng sốngnhững giây phút hào hùng của hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ để cuối cùng trở vềsống cuộc sống b́nh thường, làm người con gái dịu dàng của đất nước [1, tr.322]. Với lịch sửsông Hương đă là một chứng nhân, điều đó đă khiến thành phố Huế mang một sức hấp dẫn về vănhoá và du lịch có tầm quốc gia và quốc tế [1, tr.321].

    Tất nhiên, sông Hương không chỉ là ḍng sông của lịch sử bởi vẻ đẹp trầm mặc như triết lí,như cổ thi mà c̣n là cảm hứng muôn đời của thi ca, nhạc hoạ. Trong mối quan hệ với văn chương ḍng sông ấy không bao giờ tự lặp lại ḿnh trong cảm hứng của người nghệ sĩ. Từ trong thơ Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Tản Đà, Đoàn Phú Tứ, Tố Hữu...ḍng sông
    hiện lên với những h́nh dáng và màu sắc khác nhau trong mọi cung bậc của cảm xúc. Những
    đoản thi mà tác giả trích dẫn cùng với những tên tuổi của âm nhạc và thi ca cho thấy ḍng sông với vẻ đẹp diệu ḱ để dành riêng cho cảm hứng nghệ thuật và tri thức [1, tr.320].

    Hoàng Phủ Ngọc Tường đă viết về ḍng sông với tấm ḷng ưu ái, với t́nh yêu sâu sắc, thuỷchung.., Trong mối quan hệ với con người ḍng sông ấy là ḍng sông - đời người. Với xứ sở đăsinh thành và cưu mang nó, sông Hương đă tri ân bằng ḍng nước mát lành và phù sa màu mỡ đểhoa tươi của những khu vườn An Hiên ngọt lành, cho những ngôi làng ven sông trở thành ngôilàng thơm tho của Huế. Bút kư Ai đă đặt tên cho ḍng sông? qua tài năng văn chương - Hoàng Phủ Ngọc Tường tạo nên một ấn tượng đẹp trong ḷng độc giả. Sông Hương không chỉ đẹp bởi vẻ đẹp hoang sơ và trong sáng trong điệu chảy lững lờ mà c̣n đẹp bởi một huyền thoại chứa đựng chiều sâu của tâm linh "v́ yêu quư con sông xinh đẹp của Quê Hương con người ở hai bên bờ sông đă nấu nước trăm loài hoa đổ xuống sông để làn nước thơm tho măi" [1, tr.334].

    Trong bút kư Ai đă đặt tên cho ḍng sông? cái nh́n liên tưởng cùng những triết luận sâu
    sắc của Hoàng Phủ Ngọc Tường đă tạo ra một h́nh tượng nghệ thuật đẹp - h́nh tượng ḍng sông. Với Hoàng Phủ Ngọc Tường, "sông Hương như nỗi hoài vọng về một cái đẹp nào đó chưa đạt tới ở đời" (Sử thi buồn), nó là "Ḍng sông của thời gian ngân vang, của sử thi viết giữa màu cỏ lá xanh biếc, vẻ đẹp của ḍng sông đổi sắc không ngừng dưới ánh nắng và trong mùi hương trốn t́m của hoa tươi trong vườn" (Hoa tươi quanh tôi). Nhưng nếu như những liên tưởng, so sánh độc đáo của tác giả tạo cho người đọc những ấn tượng đẹp về ḍng sông thiên nhiên th́ cảm thức thời gian của Hoàng Phủ Ngọc Tường trong bút kư lại đem đến cho người đọc nhận thức về chiều sâu văn hoá và vẻ đẹp tâm hồn của con người xứ sở nơi ḍng sông đi qua.

    Đọc Ai đă đặt tên cho ḍng sông? ta mới cảm nhận được văn hoá lịch sử đi qua c̣n in bóng trên ḍng sông thơ mộng. Ḍng chảy của ḍng sông không đơn thuần là ḍng nước từ nguồn ra biển mà nó là ḍng chảy của thời gian, thời gian hoài niệm của Hoàng Phủ Ngọc Tường. Phạm Phú Phong đă nhận xét một cách h́nh tượng rằng: Bằng chiếc thuyền của tâm hồn có mái chèo là ng̣i bút Hoàng Phủ Ngọc Tường đă đưa người đọc xuôi theo ḍng sông thơm mát lùi xa vào lịch sử đang c̣n khuất nẻo để khám phá vị trí lịch sử lâu đời của thành Châu Hoá đứng uy nghiêm soi bóng trên sông Hương. Nó chính là một ải Chi Lăng ở phía Nam Tổ quốc đă bao lần làm quân thù khiếp sợ. Châu Hoá giữ vị trí chiến lược trong việc trấn giữ biên cương của Tổ quốc Đại Việt. Lịch sử đă gọi nó là Vạn Lư Trường Thành của Phương Nam. Ngược ḍng thời gian Hoàng Phủ Ngọc Tường gửi vào trang viết của ḿnh niềm kính trọng, sự tự hào về Thành cổ Châu Hoá, về mảnh đất quê hương.

    Trong ḍng chảy của thời gian hoài niệm, Hoàng Phủ Ngọc Tường nhận ra h́nh bóng của
    ḍng Hương trên mỗi trang Kiều ḍng sông đáy nước in trời và những nội cỏ thơm, nắng vàng
    khói biếc, nỗi u hoài của dương liễu và sắc đẹp của hoa trà mi, những mùa thu quan san, những vầng trăng thắm thiết... [1, tr.316]. Bằng thủ pháp so sánh, Hoàng Phủ Ngọc Tường nh́n thấy ḍng sông và thành phố của nó như cặp t́nh nhân lí tưởng của truyện Kiều: t́m kiếm và đuổi bắt, hào hoa và đam mê, thi ca và âm nhạc. Ông cũng khám ra bản đàn theo suốt đời Kiều lấy cảm hứng từ những năm tháng Nguyễn Du lênh đênh trên sông nước với một phiến trăng sầu, và từ tiếng nước rơi bán âm của những mái chèo khuya [1, tr.320]. Không chỉ trong bút kư Ai đă đặt tên cho ḍng sông? mà ở Hoa tươi quanh tôi Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng nhắc đến "âm hưởng xứ Huế" trong mỗi trang Kiều, cho thấy Hoàng Phủ Ngọc Tường có những nghiền ngẫm với truyện Kiều và Nguyễn Du. Sự nhạy cảm cùng khả năng quan sát tinh tế luôn thường trực trong tài năng văn chương Hoàng Phủ Ngọc Tường.

    Trong Ai đă đặt tên cho ḍng sông? không gian nội tâm được nuôi dưỡng bằng thời gian
    hoài niệm. Diện mạo quá khứ của ḍng sông hiện ra một cách rơ nét trên hành tŕnh hoài niệm của nhà văn cổ kim quấn quưt đan cài. Khi bước vào ḍng chảy của thời gian hoài niệm, người đọc không c̣n nhận ra đâu là điểm nh́n của hiện tại bởi nhà văn không chỉ ra giới hạn thời gian khi mở đầu và kết thúc tác phẩm. Hoàng Phủ Ngọc Tường bắt đầu những ḍng của Ai đă đặt tên cho ḍng sông? bằng thời gian Xuân, Hạ, Thu, Đông, tôi vẫn thường lên thăm vườn An Hiên của chị Tùng ở Kim Long và kết thúc bằng một huyền thoại về ḍng sông Hương.

    Ai đă đặt tên cho ḍng sông? nh́n ở phương diện thời gian nghệ thuật đă hiện lên bóng
    dáng cái tôi thứ hai của tác giả. Một con người luôn hoài vọng quá khứ để nâng niu những giá trị tinh thần. Từ h́nh tượng ḍng sông, Hoàng Phủ Ngọc Tường đă làm nổi bật vẻ đẹp văn hoá, lịch sử và tâm hồn con người một vùng đất cổ kính của đất nước.

  10. #10
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gửi
    1.721
    Cảm ơn
    4
    Thanked 102 Times in 78 Posts

    Đề 17: Phân tích tác phẩm Vợ Chồng A Phủ của Tô Hoài.

    BÀI LÀM:

    Mị là nhân vật trung tâm trong truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" mà nhà văn Tô Hoài đă dành nhiều tài năng và tâm huyết để xây dựng. Truyện được trích từ tập "truyện Tây Bắc" (1953) của Tô Hoài. Trong chuyến đi cùng bộ đội vào giải phóng miền Tây Bắc (1952), Tô Hoài đă có dịp sống, cùng ăn, cùng ở với đồng bào các dân tộc miền núi, chính điều đó đă giúp Tô Hoài t́m được cảm hứng để viết truyện này. Tô Hoài thành công trong "Vợ chồng A Phủ" không chỉ do vốn sống, t́nh cảm sống của ḿnh mà c̣n là do tài năng nghệ thuật cùa một cây bút tài hoa.

    Trong "Vợ chồng A Phủ", Tô Hoài đă sử dụng nhiều biện pháp nghệ thuật, trong đó nổi bật và đáng chú ư nhất là biện pháp phân tích tâm lư và hành động của Mị trong từng chặng đường đời. Điểm nghệ thuật ấy thật sự phát sáng và thăng hoa trong đoạn văn miêu tả tâm lư và hành động của nhân vật Mị trong đêm mùa đông cứu A Phủ. Qua đó ta thấy được giá trị hiện thực và nhân đạo của tác phẩm. Trong tác phẩm này, điều gây cho bạn đọc ấn tượng nhất đó chính là h́nh ảnh của cô gái "dù làm bất cứ việc ǵ, cô ta cũng cúi mặt, mắt buồn rười rượi". Đó là tâm lư của một con người cam chịu, buông xuôi trước số phận, hoàn cảnh sống đen tối đầy bi kịch. Sở dĩ Mị có nét tính cách ấy là do cuộc sống hôn nhân cưỡng bức giữa Mị và A Sử. Mị không được lấy người ḿnh yêu mà phải ăn đời ở kiếp với một người mà ḿnh sợ hăi, lạnh lùng. Một nguyên nhân nữa chính là do uy quyền, thần quyền, đồng tiền của nhà thống lư Pá Tra đă biến Mị thành một đứa con dâu gạt nợ.

    Mang tiếng là con dâu của một người giàu có nhất vùng, nhưng thật sự Mị chỉ là một kẻ nô lệ không hơn không kém. Điều đó làm Mị đau khổ, Mị khóc ṛng ră mấy tháng trời và từng có ư định ăn nắm lá ngón kết thúc cuộc đời ḿnh. Thế nhưng "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi". Chính v́ thế Mị đă buông xuôi trước số phận đen tối của ḿnh, trái tim của Mị dần chai sạn và mất đi nhịp đập tự nhiên của nó. Song song với nét tính cách đó lại là tâm trạng của một người yêu đời, yêu cuộc sống, mong muốn thoát khỏi hoàn cảnh sống đen tối, đầy bi kịch. Điều đó đă được thể hiện trong đêm mùa xuân.

    Trong đêm mùa xuân ấy, tâm trạng của Mị phát triển theo những cung bậc t́nh cảm khác nhau, cung bậc sau cao hơn cung bậc trước. Ban đầu, Mị nghe tiếng sáo Mèo quen thuộc, Mị nhẩm thầm bài hát người đang thổi, rồi Mị uống rượu và nhớ lại kỷ niệm đẹp thời xa xưa... Mị ư thức được về bản thân và về cuộc đời rồi Mị muốn đi chơi. Nhưng sợi dây thô bạo của A Sử đă trói đứng Mị vào cột. Thế nhưng sợi dây ấy chỉ có thể "trói" được thân xác Mị chứ không thể "trói" được tâm hồn của một cô gái đang ḥa nhập với mùa xuân, với cuộc đời. Đêm ấy thật là một đêm có ư nghĩa với Mị. Đó là đêm cô thực sự sống cho riêng ḿnh sau hàng ngàn đêm cô sống vật vờ như một cái xác không hồn. Đó là một đêm cô vượt lên uy quyền và bạo lực đế sống theo tiếng gọi trái tim ḿnh. Sau đêm mùa xuân ấy, Mị lại tiếp tục sống kiếp đời trâu ngựa. Thế nhưng viết về vấn đề này, Tô Hoài khẳng định: cái khổ cái nhục mà Mị gánh chịu như lớp tro tàn phủ khuất che lấp sức sống tiềm tàng trong ḷng Mị. Và chỉ cần có một luồng gió mạnh đủ sức thổi đi lớp tro buồn nguội lạnh ấy th́ đốm lửa ấy sẽ bùng cháy và giúp Mị vượt qua cuộc sống đen tối của ḿnh. Giá trị nhân đạo của tác phẩm ngời lên ở chỗ đó.

    Và cuối cùng, luồng gió ấy cũng đến. Đó chính là những đêm mùa đông dài và buồn trên núi rừng Tây Bắc đang về. Mùa đông rét buốt như cắt da cắt thịt, v́ thế đêm nào Mị cũng ra bên ngoài bếp lửa để thổi lửa hơ tay. Trong những đêm đó Mị gặp A Phủ đang bị trói đứng chờ chết giữa trời giá rét. Thế nhưng Mị vẫn thản nhiên thổi lửa hơ tay "Dù A Phủ là cái xác chết đứng đó cũng thế thôi". Tại sao Mị lại lănh cảm, thờ ơ trước sự việc ấy? Phải chăng việc trói người đến chết là một việc làm b́nh thường ở nhà thống lư Pá Tra và ai cũng quen với điều đó nên chẳng ai quan tâm đến. Hay bởi Mị "sống lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi" nên Mị lănh đạm, thờ ơ trước nỗi đau khổ của người khác. Một đêm nữa lại đến, lúc đó mọi người trong nhà đă ngủ yên cả rồi, Mị lại thức dậy đến bếp đốt lửa lên để hơ tay. Lửa cháy sáng, "Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một ḍng nước mắt lấp lánh ḅ xuống hai hơm má đă xám đen lại".

    Đó là ḍng nước mắt của một kẻ nô lệ khi phải đối mặt với cái chết đến rất gần. Chính "ḍng nước mắt lấp lánh ấy" đă làm tan chảy lớp băng giá lạnh trong ḷng Mị. Ḷng Mị chợt bồi hồi trước một người, trùng cảnh ngộ. Đêm mùa xuân trước Mị cũng bị A Sử trói đứng thế kia, có nhiều lần khóc nước mắt rơi xuống miệng, xuống cổ không lau đi được. Mị chợt nhận ra người ấy giống ḿnh về cảnh ngộ, mà những người cùng cảnh ngộ rất dễ cảm thông cho nhau. Mị nhớ lại những chuyện thật khủng khiếp lúc trước kia, "chúng nó bắt trói đến chết người đàn bà ngày trước cũng ở trong cái nhà này". Lư trí giúp Mị nhận ra "Chúng nó thật độc ác". Việc trói người đến chết c̣n ác hơn cả thú dữ trong rừng. Chỉ v́ bị hổ ăn mất một con ḅ mà một người thanh niên khỏe mạnh, siêng năng, say sưa với cuộc đời đă phải lấy mạng ḿnh thay cho nó. Bọn thống trị coi sinh mạng của A Phủ không bằng một con vật. Và dẫu ai phạm tội như A Phủ cũng bị xử phạt như thế mà thôi. Nhớ đến những chuyện ngày trước, trở về với hiện tại, Mị đau khổ cay đắng cho thân phận của ḿnh: "Ta là thân đàn bà chúng nó đẵ bắt ta về tŕnh ma nhà nó rồi th́ chỉ c̣n biết chờ ngày rũ xương ở đây thôi". Nghĩ về ḿnh, Mị lại nghĩ đến A Phủ "có chừng này, chỉ đêm nay thôi là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết. Người kia việc ǵ mà phải chết như thế. A Phủ... Mị phảng phất nghĩ như vậy". Thật sự, chẳng có lí do ǵ mà bọn thống lí Pá Tra bắt A Phủ phải chết v́ cái tội để mất một con ḅ! Trong đầu Mị bỗng nhiên nghĩ đến cảnh A Phủ bỏ trốn và chính Mị sẽ là người chết thay cho A Phủ trên cái cột tưởng tượng đó. Thế nhưng, Mị vẫn không thấy sợ, sự suy tưởng của Mị là có cơ sở của nó. Cha con Pá Tra đă biến Mị từ một con người yêu đời, yêu cuộc sống, tài hoa chăm chỉ, hiếu thảo, tha thiết với t́nh yêu thành một con dâu gạt nợ, một kẻ nô lệ đúng nghĩa, chúng đă tàn ác khi trói một người đàn bà ngày trước đến chết th́ chẳng lẽ chúng lại không đối xử với Mị như thế ư? Như vậy, chứng kiến "ḍng nước mắt lấp lánh" của A Phủ, tâm trạng của Mị diễn biến phức tạp. Mị thông cảm với người cùng cảnh ngộ, Mị nhớ đến chuyện người đàn bà ngày trước, lí trí giúp Mị nhận ra bọn lănh chúa phong kiến thật độc ác, Mị xót xa trước số phận của ḿnh rồi Mị lại nghĩ đến A Phủ; sau đó Mị lại tưởng tượng đến cái cảnh ḿnh bị trói đứng... Một loạt nét tâm lí ấy thúc đẩy Mị đến với hành động: dùng dao cắt lúa rút dây mây cởi trói cho A Phủ. Đó là một việc làm táo bạo và hết sức nguy hiểm nhưng nó phù hợp với nét tâm lí của Mị trong đêm mùa đông này.

    Sau khi cắt dây cởi trói cho A Phủ, Mị cũng không ngờ ḿnh dám làm một chuyện động trời đến vậy. Mị th́ thào lên một tiếng "đi ngay" rồi Mị nghẹn lại. A Phủ vùng chạy đi, c̣n Mị vẫn đứng lặng trong bóng tối. Ta có thể h́nh dung được nét tâm lí ngổn ngang trăm mối của Mị
    lúc này. Ḷng Mị rối bời với trăm câu hỏi: Vụt chạy theo A Phủ hay ở đây chờ chết?. Thế là cuối cùng sức sống tiềm tàng đă thôi thúc Mị phải sống và Mị vụt chạy theo A Phủ. Trời tối lắm nhưng Mị vẫn băng đi. Bước chân của Mị như đạp đổ uy quyền, thần quyền của bọn lănh chúa phong kiến đương thời đă đè nặng tâm hồn Mị suốt bao nhiêu năm qua. Mị đuổi kịp A Phủ và nói lời đầu tiên. Mị nói với A Phủ sau bao nhiêu năm câm nín: "A Phủ. Cho tôi đi! Ở đây th́ chết mất". Đó là lời nói khao khát sống và khát khao tự do của nhân vật Mị. Câu nói ấy chứa đựng biết bao t́nh cảm và làm quặn đau trái tim bạn đọc. Đó chính là nguyên nhân - hệ quả của việc Mị cắt đứt sợi
    dây vô h́nh ràng buộc cuộc đời của ḿnh. Thế là Mị và A Phủ d́u nhau chạy xuống dốc núi. Hai người đă rời bỏ Hồng Ngài - một nơi mà những kỉ niệm đẹp đối với họ quá ít, c̣n nỗi buồn đau, tủi nhục th́ chồng chất không sao kể xiết. Hai người rời bỏ Hồng Ngài và đến Phiềng Sa, nhưng những ngày phía trước ra sao họ cũng chưa biết đến...

    Rơ ràng, trong đêm mùa đông này, sức sống tiềm tàng đóng một vai tṛ hết sức quan trọng. Chính nó đă giúp Mị vượt lên trên số phận đen tối của ḿnh. Mị cứu A Phủ cũng đồng nghĩa với việc Mị tự cứu lấy bản thân ḿnh. Qua đoạn trích trên, Tô Hoài đă ca ngợi những phẩm chất đẹp đẽ của người phụ nữ miền núi nói riêng và những người phụ nự Việt Nam nói chung. Tô Hoài đă rất cảm thông và xót thương cho số phận hẩm hiu, không lối thoát của Mị. Thế nhưng bằng một trái tim nhạy cảm và chan chứa yêu thương, Tô Hoài đă phát hiện và ngợi ca đốm lửa c̣n sót lại trong trái tim Mị. Tư tưởng nhân đạo của nhà văn sáng lên ở đó. Đồng thời qua tác phẩm, Tô Hoài cũng đă khẳng định được chân lí muôn đời: ở đâu có áp bức bất công th́ ở đó có sự đấu tranh để chống lại nó dù đó là sự vùng lên một cách tự phát như Mị. Quả thật, tác phẩm này giúp ta hiểu được nhiều điều trong cuộc sống.

    Với truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" nói riêng và tập "Truyện Tây Bắc" nói chung, ta hiểu v́ sao Tô Hoài lại thành công trong thể loại truyện ngắn đến như vậy. Nét phong cách nghệ thuật: màu sắc dân tộc đậm đà chất thơ chất trữ t́nh thấm đượm, ngôn ngữ lời văn giàu tính tạo h́nh đă hội tụ và phát sáng trong truyện ngắn này. Tác phẩm "Truyện Tây Bắc" xứng đáng với giải nhất truyện ngắn - giải thưởng do Hội nghệ sĩ Việt Nam trao tặng năm 1954 - 1955. Và "Vợ chồng A Phủ" thực sự để lại ấn tượng tốt đẹp trong ḷng bạn đọc bởi những giá trị nghệ thuật, giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo của nó. Truyện ngắn này quả là một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách
    Tô Hoài. Đối với riêng em, truyện "Vợ chồng A Phủ" giúp em cảm thông sâu sắc trước nỗi khổ của người phụ nữ trong xă hội phong kiến miền núi, từ đó giúp em ngày càng trân trọng khát vọng của họ hơn. Đây quả là một tác phẩm văn chương đích thực bởi nó đă góp phần nhân đạo hóa tâm hồn bạn đọc như Nam Cao đă quan niệm trong truyện ngắn "Đời thừa".

Trang 1/3 123 CuốiCuối

Từ khóa cho bài viết này

Đề bài : anh ( chị ), Để sống đẹp, Đời thừa – nam cao, đối với mỗi con người, "bắt trẻ đồng xanh", a. lin- côn, an tuong thuat, bạn cho rằng thế nào là sành điệu?, bạn sẽ nói ǵ với tuổi trẻ hôm nay?, bạo v́ tiền, bác bỏ lối sống ích kỷ, bài dự thi đạt giải nhất cuộc thi, bai tap lam van, bài văn được điểm 9.5, bai van mau, bai van mau so, bài viết có thể dùng tư liệu thực tế, bàn cách thức rèn luyện, báo thanh niên mở diễn đàn, bí quyết làm tốt văn nghị luận, biểu hiện của lối sống đẹp, b́nh luận bằng việc nêu gương những cá nhân, cảm nghĩ về mẹ, cần hành động tích cực, của bạn về vai tṛ và ư nghĩa, của con người, của nhà thơ tố hữu, của việc học văn trong xă hội ngày nay, cá lớn nuốt cá bé, cac bai van mau, cách sống, cách sống sao cho đẹp, cao đẹp . + bồi dưỡng tâm hồn, câu thơ của tố hữu, chấp nhận thi rớt c̣n vinh dự hơn, chị, chứng minh, cho đề bài, có ba điều làm hỏng, có ba điều làm hỏng một con người, có thể lấy dẫn chứng trong văn học, có thể vận dụng các thao tác, có tính xây dựng, c̣n bạn, con người cần, cuộc đời luôn tồn tại những kẻ, dẫn dắt để nêu vấn đề, giải thích thế nào là sống đẹp, giới thiệu, giai thich, gian lận trong thi cử, học đối với mỗi con người trong, học phương pháp, học phương pháp học, học sinh ngày nay, học vấn là, học vấn là nấc thang, học vấn là nấc thang khôn cùng, hội nhập của đất nước, hỡi bạn ? ( một khúc ca ), hăy trả lời câu hỏi sau, hăy tŕnh bày suy nghĩ của ḿnh, kẻ mạnh không phải là kẻ giẫm, kẻ mạnh là kẻ giúp đỡ kẻ khác trên đôi vai của ḿnh, khôn cùng, kiến thức mỗi ngày thêm mở rộng, lương thiện, lập dàn ư, lập luận như, là dùng đồ vật đắt tiền và khác người, làm thay đổi cuộc đời tôi, lên vai người khác để thỏa măn ḷng ích kỉ, ḷng tự trọng của con người, mạnh v́ gạo, một cách tích cực, một con người: rượu, mở bài, mở mang kiến thức, mục đích của câu thơ, mục đích sống đúng đắn, mà con người, nước việt nam ta, nước việt nam ta nhỏ hay không nhỏ?, nấc thang khôn cùng, nếu được tham gia diễn đàn trên, nêu lên vấn đề sống đẹp, nêu ngay câu thơ của tố hữu và nội dung, nghị luận xă hội, nghị luận xă hội về, nhưng những người từng trải lại bảo rằng, nhận thức đúng đắn và rèn luyện, nhằm khơi gợi tinh thần tự hào dân tộc, nhỏ hay không nhỏ, nhân hậu . + làm cho trí tuệ, nhiều người cho rằng, nhung bai van mau, ôi ! sống đẹp là thế nào phân tích các khía cạnh, phân tích, quan niệm sach tham khao van mau, quyển sách, quyển sách làm thay đổi cuộc đời tôi, rở thành người có ích, rèn luyện hoàn thiện nhân cách, sống đẹp là sống không ngừng học tập, sach van mau hay, sai như thế nào?, sáng suốt, sành điệu là ăn mặc đúng mốt, sành điệu nhất chính là biết chấp nhận thử thách, song nhà văn nam cao lại quan niệm, suy nghĩ về, suy nghĩ về : ḷng tự trọng, suy nghĩ về quan niệm, suy nghĩ về t́nh mẫu tử, tập thể sống đẹp, tap lam van mau, thế giới hiện đại, thế nào là sống đẹp?, thi rớt c̣n vinh dự hơn gian lận trong thi cử, thiếu ư chí nghị lực, thói quen sống, thói quen sống mà con người, tiền bạc và hạnh phúc, t́m hiểu đề, t́nh cảm lành mạnh, tính kiêu ngạo và sự giận dữ, t́nh thương là hạnh phúc, t́nh thương là hạnh phúc của con người, trở thành tốt hay xấu, trực tiếp, tŕnh bày quan điểm, tŕnh bày quan điểm của bạn về, tŕnh bày quan điểm của bạn về vai tṛ, tŕnh bày suy nghĩ của anh, tŕnh bày suy nghĩ của anh/chị, tŕnh bày suy nghĩ của em về câu nói trên, trong thế giới hiện đại?, trong thời đại mở cửa, trong xă hội ngày nay, văn mẫu nghị luận văn học, văn mẫu nghị luận xă hội, văn mẫu nlvh, văn mẫu nlxh, văn nghị luận văn học, văn nghị luận xă hội, vấn đề mà mỗi cá nhân cần, về câu nói của, về câu nói của a. lin- côn, về tinh thần tự học, với đề bài này, với thanh niên, và đi trước mốt, và dấn thân vào thử thách của cuộc đời, và lập dàn ư, và ư thức trách nhiệm của tuổi trẻ, vai tṛ và ư nghĩa của việc học văn, van ke chuyen, van mau ke chuyen, van mau tuong thuat, van tuong thuat, viết 1 bài văn nghị luận với nhan đề “sành điệu”, viết dưới dạng câu hỏi, vô trách nhiệm, xác định lí tưởng do cách sống, xin hăy dạy cho con tôi, ư kiến ấy đúng, ư nghĩa của việc học văn trong xă hội ngày nay, y nghia cau noi, “xin hăy dạy cho con tôi chấp nhận

View Tag Cloud

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của ḿnh
  •