Qua bài Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm anh chị hăy làm sang tỏ quan điểm Đất nước là của nhân dân.

BÀI LÀM

Nguyễn Khoa Điềm thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Mĩ như Lê Anh Xuân, Bằng Việt, Nguyễn Mĩ, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Duy, Xuân Quỳnh, Lâm Thị Mỹ Dạ, Thanh Thảo, Hữu Thỉnh... Nguyễn Khoa Điềm nổi tiếng với hai tác phẩm là trường ca "Mặt đường khát vọng" và bài thơ "Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ". Nguyễn Khoa Điềm cũng như một số nhà thơ hàng đầu của thế hệ ông đă cảm nhận sâu sắc thời điểm lịch sử trang nghiêm nên đă để tâm huyết vào chủ đề lớn của thơ ca là đất nước. Và tất

nhiên để phù hợp với nội dung phong phú, rộng lớn đó, phải có một h́nh thức có dung lượng lớn là trường ca. Cho nên nhiều trường ca đă ra đời trong giai đoạn văn học này mà nổi tiếng hơn cả là ba trường ca "Những người đi tới biển" của Thanh Thảo, "Đường tới thành phố" của Hữu Thỉnh và "Mặt đường khát vọng" của Nguyễn Khoa Điềm.

"Đất nước" là một đoạn trích thuộc phần đầu chương V - chương trọng tâm của trường ca "Mặt đường khát vọng", (chương năm), là chương trong tâm của tác phẩm. Tác giả tập trung trong chương thơ này là những cảm nhận và suy nghĩ sâu sắc về đất nước: "Đất nước này là Đất Nước Nhân Dân".

Nhận thức mới mẻ ấy cũng chính là sự lựa chọn, ư thức về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước và dân tộc trong cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất nước nhà. Nguyễn Khoa Điềm kết hợp giữa trữ t́nh và chính luận, lối kết hợp này trong thơ giống Chế Lan Viên (thường các nhà thơ tự sáng tác những bài thơ dài và trường ca đều kết hợp giữa trữ t́nh và tự sự). Trữ t́nh - Chính luận phát huy đựơc mặt trí tuệ, thể hiện sự uyên bác với những kIến thức sách vở triết lí, nếu biết khéo léo kết hợp với xúc cảm, với tri thứ nhỡn kiến th́ sẽ tạo ra sự hấp dẫn lạ lùng cho thơ.

Ta có thể h́nh dung chính luận trong khúc trường ca này như một sợi dây: Đất nước trường tồn trong chiều dài thời gian, trong chiều rộng không gian, trong phong tục tập quán, trong tâm hồn và tính cách của người Việt. Bằng sợi dây dẻo dai ấy, những hạt cườm trữ t́nh óng ánh, lung linh được xâu lại thành chuỗi cườm "Đất Nước muôn đời". Ta hăy xem nghệ thuật xâu cườm dẻo dai, cần mẫn, khéo léo của thi sĩ Nguyễn Khoa Điềm:

"Khi ta lớn lên Đất Nước đă có rồi
Đất Nước có trong những cái "ngày xửa ngày xưa" mẹ thường hay kể.

Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn
Đất Nước lớn lên khi dân ḿnh biết trồng tre mà đánh giặc"


Điệp ngữ "Đất Nước" vọng lên khúc nhạc thiêng liêng. Thiêng liêng về thời gian thăm thẳm "Khi ta lớn lên Đất Nước đă có rồi", thiêng liêng với cổ tích, thiêng liêng với "miếng trầu bây giờ bà ăn", thiêng liêng với sự trưởng thành về ư thức bảo vệ Tổ quốc:


"Đất Nước lớn lên khi dân ḿnh biết trồng tre mà đánh giặc"


Nhờ "sợi chỉ" chính luận mà những "hạt cườm" của đời sống vật chất (miếng trầu, cây tre, tóc, cái kèo cái cột, hạt gạo) và đời sống tinh thần (chuyện cổ tích, cha mẹ thương nhau...) được xâu lại tạo ra hết bất ngờ này đến bất ngờ khác:

"Đất là nơi anh đến trường
Nước là nơi em tắm
Đất Nước là nơi ta ḥ hẹn
Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm"


Tác giả chuyển từ những câu kể sang những câu đẳng thức, từ những chi tiết xa xôi đến những chi tiết gần gũi đậm đặc trữ t́nh. Ca dao thấm trong từng lời:

"Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn"
"Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm"


Nếu thời gian hiện lên trong "chuỗi cườm" trữ t́nh - chính luận thật là thiêng liêng th́ không gian hiện lên thơ mộng, hùng vĩ:

"Đất là nơi "con chim phượng hoàng bay về ḥn núi bạc"
Nước là nơi "con cá ngư ông móng nước biển khơi"
... Đất là nơi Chim về
Nước là nơi Rồng ở
Lạc Long Quân và Âu Cơ
Đẻ ra đồng bào ta trong bọc trứng"


Để mở rộng khái niệm đất nước, tăng cường bề dày, bề sâu của khái niệm này, tác giả điệp lại kiểu câu đẳng thức "Đất là", "Nước là" nhưng các h́nh ảnh của xúc cảm, của ư tưởng đều mới, giống như những biến tấu trong âm nhạc vừa nhấn mạnh chủ đề, vừa mở rộng chủ đề gây ấn mới lạ. Luận lí của mạch chính luận là từ xa đến gần, từ khái quát đến cụ thể, từ ngoài vào trong, tượng từ cộng đồng đến cá nhân:

"Trong anh và em hôm nay
Đều có một phần Đất Nước
Khi hai đứa cầm tay
Đất Nước trong chúng ta hài hoà nồng thắm
Khi chúng ta cầm tay mọi người
Đất Nước vẹn tṛn, to lớn"


Những suy nghĩ về đất nước trong mỗi cá nhân càng sâu sắc th́ giọng điệu trữ t́nh càng thống thiết:

"Em ơi em Đất Nước là máu xương của ḿnh
Phải biết gắn bó và san sẻ
Phải biết hoá thân cho dáng h́nh xứ sở
Làm nên Đất Nước muôn đời..."


Để dẫn đến những suy luận về sự trường tồn của đất nước, nhà thơ đă huy động vốn kiến thức của sách vở, của đời sống, của lịch sử, địa lí, của truyền thuyết, của ca dao, của phong tục tập quán... Mỗi chi tiết đều có tính thẩm mĩ và được nuôi dưỡng trong xúc cảm của nhà thơ, cho nên suy luận thơ của tác giả vừa có sức thuyết phục về trí tuệ lại vừa truyền cảm. Sang đoạn hai, nhà thơ phát triển và mở rộng chủ đề Đất Nước để dẫn đến chiều sâu của khái niệm này là "Đất Nước Nhân dân".

Vẫn là mạch trữ t́nh - chính luận, nhưng trên sợi chỉ chính luận, ta nhận ra những hạt cườm có màu sắc và h́nh dạng khác. Trên kia là những h́nh ảnh của "Đất Nước đă có rồi" và đây là những h́nh ảnh của con người các thời đại "góp cho Đất Nước". Phẩm chất thi sĩ biểu hiện ở sự lựa chọn những "hạt cườm" để xâu vào sợi dây chính luận ấy.

"Những người vợ nhớ chồng c̣n góp cho Đất Nước những núi Vọng Phu
Cặp vợ chồng yêu nhau góp nên ḥn Trống Mái
Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua c̣n trăm ao đầm để lại
Chín mươi chín con voi góp ḿnh dựng đất Tổ Hùng Vương
Những con rồng nằm im góp ḍng sông xanh thẳm
Người học tṛ nghèo góp cho Đất Nước ḿnh núi Bút, non Nghiên"


Hồi đó đất nước c̣n đang bị kẻ thù chia cắt, nhà thơ viết trường ca "Mặt đường khát vọng" ở chiến trường, nhưng trong tư duy của nhà thơ là một đất nước thống nhất. Những tên đất, tên núi, tên sông, sự tích, những truyền thuyết đều gắn bó máu thịt trong một cơ thể thống nhất. Vừa mới thấy "những núi Vọng Phu" đâu như ở B́nh Định (mà núi Vọng Phu trên đất nước ta nơi nào chẳng có) đă thấy "ḥn Trống Mái" ở Sầm Sơn (Thanh Hoá), vừa mới thấy "gót ngựa của Thánh Gióng" suốt dọc đường từ Bắc Ninh đến Lạng Sơn đă thấy "những con rồng" xanh thẳm ở Nam Bộ (sông Cửu Long). Những "núi Bút, non Nghiên" ở xứ Quảng, những "con cóc, con gà" ở Hạ Long, nhưng "Ông Đốc, Ông Trang, Bà Đen, Bà Điểm" đều góp phần tạo ra "một dáng h́nh, một ao ước, một lối sống ông cha". Đất nước thống nhất trong máu thịt, trong xương tuỷ, trong t́nh cảm, trong ước vọng như thế, kẻ thù nào chia cắt được! Nhưng đó chỉ là một khía cạnh tư tưởng chủ đề của khúc trường ca này. Những ḍng khái quát sau đây mới là ḍng mạch chính của chủ đề tác phẩm:

"Ôi Đất Nước sau bốn ngh́n năm đi đâu ta cũng thấy
Những cuộc đời đă hoá núi sông ta..."


Rồi nhà thơ chuyển từ bút pháp sử thi sang giọng điệu trữ t́nh, nhà thơ tâm t́nh với "em" mà t́m sự đồng cảm của hết thảy chúng ta:

"Em ơi em
Hăy nh́n rất xa
Vào bốn ngh́n năm Đất Nước
Năm tháng nào cũng người người lớp lớp
Con gái, con trai bằng tuổi chúng ta
Cần cù làm lụng
Khi có giặc người con trai ra trận
Người con gái trở về nuôi cái cùng con..."


Càng nh́n sâu vào "bốn ngh́n năm Đất Nước", nhà thơ càng thấm thía với công lao xây dựng, vun đắp, bảo vệ đất nước. Đặc biệt là lớp người tuổi trẻ, những "con gái, con trai bằng tuổi chúng ta" đă làm cho nhà thơ xúc động mănh liệt. Có lẽ đây là trực cảm của nhà thơ đối với lớp thanh niên trong thời ḱ chống Mĩ cứu nước:

"Có biết bao người con gái, con trai
Trong bốn ngh́n lớp người giống ta lứa tuổi
Họ đă sống và chết
Giản dị và b́nh tâm
Không ai nhớ mặt đặt tên
Nhưng họ đă làm ra Đất Nước".


Chính những người anh hùng vô danh ấy đă "giữ và truyền" cho ta từ hạt lúa đến ngọn lửa, từ ngôn ngữ đến hành động:

"Có ngoại xâm th́ chống ngoại xâm
Có nội thù th́ vùng lên đánh bại
Để Đất Nước này là Đất Nước Nhân Dân"


Như vậy là theo mạch chính luận và suy tưởng, tác giả đă dẫn dắt đến chiều sâu chủ đề khúc trường ca. Nhưng tác giả không dừng ở phát hiện "Đất Nước này là Đất Nước Nhân Dân" mà c̣n muốn cho khái niệm này ngân vang lên trong thần thoại, trong cổ tích, trong ca dao dân ca. Khúc trường ca không bị khô khốc trong triết lí mà trở nên hồn nhiên, tươi mát, huyền ảo:

"Đất Nước của Nhân Dân, Đất Nước của ca dao thần thoại
Dạy anh biết "yêu em từ thuở trong nôi"
Biết quư công cầm vàng những ngày lặn lội
Biết trồng tre đợi ngày thành gậy
Đi trả thù mà không sợ dài lâu..."


"Đất nước" là một trích đoạn hay trong bản trường ca "Mặt đường khát vọng" của Nguyễn Khoa Điềm. Bằng trữ t́nh - chính luận, tác giả đă khéo léo dẫn dắt đến chủ đề sâu sắc là Đất Nước Nhân Dân. Xúc cảm trực tiếp, mănh liệt từ cuộc chiến đấu sinh tử của nhân dân ta trong cuộc kháng chiến chống Mĩ mà tác giả đă huy động t́nh cảm, trí tuệ, kiến thức về địa lí, lịch sử, văn học, đặc biệt là văn học dân gian để diễn tả sức mạnh thần ḱ của Nhân dân trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Một "Đất Nước Nhân Dân" tươi đẹp và thần ḱ như thế sẽ chiến thắng bất ḱ kẻ thù xâm lược nào. .

ST

Xem thêm bài khác