1. Đăng nhập
  2. Đăng kư
Hiện kết quả từ 1 tới 4 của 4
  1. #1
    Tham gia ngày
    Jun 2012
    Bài gửi
    70
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 1 lần trong 1 bài viết

    Thuyết minh về chiếc bánh chưng ngày tết

    ►Xem: 52988 ►Trả Lời: 3
    ►Chia Sẽ:
    29-06-2012

    Thuyết minh về chiếc bánh chưng ngày tết


    Bánh chưng là một sản vật xuất hiện từ trước thời văn minh lúa nước của người Việt và cho đến nay cũng như măi măi về sau, bánh chưng luôn có sự hiện diện trong đời sống văn hoá ẩm thực và văn hoá tâm linh của người Việt Nam. Có thể nói bánh chưng là một sản vật vừa có sức trường tồn mà lại rất gần gũi với đời sống thường nhật của người Việt Nam trong cả hai lĩnh vực: Văn hoá ẩm thực và văn hoá tâm linh.

    Phong bánh chưng ngày Tết được bày trên mâm cúng ông bà, ông vải là một mỹ tục, được truyền lại từ thời các Vua Hùng trong truyền thuyết Lang Liêu, một trong những người con của Vua Hùng đă dùng lúa nếp làm nên những chiếc bánh chưng, bánh dầy thay cho các thứ sơn hào, hải vị dâng tiến vua cha. Có lẽ cũng từ đó mới xuất hiện hai từ “ngọc thực”. Nó là biểu trưng cho ḷng thành kính đến mộc mạc của con cháu đối với cha mẹ, ông bà, tổ tiên mà không có thứ ngọc nào sánh nổi. Nó là thứ “ngọc” đă nuôi sống con người, nuôi sống dân tộc từ thuở hồng hoang của lịch sử cho tới muôn sau.

    Trong những ngày tết Nguyên Đán, không có gia đ́nh Việt Nam nào lại thiếu vắng những chiếc bánh chưng xanh trên bàn thờ, trên mâm cúng ông bà, ông vải. Bánh chưng có thể được tự làm ra từ khi gieo hạt, trồng cấy, thu hái, xay giă, gói luộc đối với người nông dân ở miền xuôi, miền ngược, miền Bắc, miền Nam. Và, bánh chưng cũng có thể được mua như mua các loại hàng hoá khác đối với những người dân các vùng đô thị trong nước và ở nước ngoài. Chiếc bánh chưng ngày tết dù tự túc, tự sản hay được mua bán như những thứ hàng hoá khác nhưng đều có chung một điểm: Đó là sản vật không thể thiếu để dâng cúng lên cha mẹ, ông bà, tổ tiên trong ngày Tết. Một nét đẹp lâu đời nhất, truyền thống nhất trong văn hoá tâm linh của người Việt Nam.

    Ngày nay, trong sản xuất nông nghiệp với xu thế chuyển đổi nông sản thành hàng hoá, việc trồng cấy đại trà và tạo ra những vùng nguyên liệu chuyên canh là một xu thế tất yếu. Tuy vậy, vẫn c̣n không ít những gia đ́nh nông dân vẫn c̣n lưu giữ một tập quán lâu đời: Đó là việc dành riêng một một khoảnh, một thửa đất để trồng cấy các giống nếp quư, chỉ dùng cho việc cúng lễ hay những ngày trọng trong năm. Từ việc chọn giống như giống nếp cái hoa vàng, giống nếp hương …, lúa gặt về được nhặt từng bông, lựa những bông có hạt chắc, mẩy đều rồi buộc thành từng túm nhỏ treo trên sào cốt tránh lẫn các loại lúa khác. Đến mùa gieo mạ mới đem xuống dùng đĩa xứ, hoặc vỏ con trai cạo từng túm chứ không đập. Quá tŕnh chăm sóc luôn giữ đủ nước, vừa phân và xa các khu ruộng trồng các loại lúa tẻ để tránh lai tạp. Khi gặt về cũng lựa từng bông và bảo quản bằng các túm nhỏ trên sào tre. Giáp tết hay những ngày trọng mới đem suột và xay giă làm gạo để gói bánh chưng hoặc đồ xôi. Những việc làm cẩn thận, cầu kỳ đến tỉ mẩn này không chỉ thể hiện sự “sành ăn” v́ giống nếp quư lại không lẫn tẻ, không bị lai tạp nên khi gói luộc, bánh chưng sẽ dẻo, rền và thơm hương nếp cùng lá dong xanh mà c̣n thể hiện sự tôn kính đối với các thế hệ tiền nhân.

    Trong cái tết Mậu Thân, trước tổng tiến công các má, các chị đă ngày đêm gói rất nhiều đ̣n bánh tét cho bộ đội ăn tết trước và đem theo làm lương ăn trong những ngày Tết đánh giặc. H́nh ảnh anh bộ đội giải phóng với vành mũ tai bèo, bên hông cột gọn gàng gói bộc phá với một đ̣n bánh tét măi măi là bức phù điêu của những mùa xuân đại thắng của dân tộc Việt Nam. Trước đó hơn hai trăm năm ( Bính Ngọ – 1786 ), bánh chưng ( bánh tét ) cũng theo bước chân thần tốc của đoàn quân của người anh hùng áo vải Tây Sơn - Nguyễn Huệ pḥ Lê diệt Trịnh. Bánh chưng theo suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc. Bánh chưng có mặt trong mọi hoạt động xă hội, tín ngưỡng. Bánh chưng làm dẻo mềm hơn câu ca dao, gắn kết quá khứ với hiện tại và trong xu thế hội nhập, bánh chưng Việt Nam trong những ngày tết cổ truyền của dân tộc lại có mặt trên khắp năm châu. Bánh chưng Việt Nam trong vai tṛ sứ giả, mang thông điệp của một Việt Nam đổi mới, mong muốn hoà b́nh, hợp tác, hữu nghị với thế giới, cùng hướng tới tương lai …

    Ngày tết, ăn một miếng bánh chưng sau khi cúng lễ tổ tiên, ông bà, cha mẹ, dư vị thời gian, không gian huyền thoại của lịch sử như cùng quy tụ trong màu xanh của bánh, mùi thơm thảo của hạt nếp tiền nhân để cùng suy ngẫm về ư nghĩa triết học và giá trị nhân văn của các truyền thuyết, các sự tích về bánh chưng của người Việt. Đó cũng là một cách di dưỡng tinh thần, làm giàu thêm bản sắc văn hoá tâm linh và văn hoá ẩm thực Việt Nam.

    (Sưu tầm)


    Xem thêm bài khác

  2. #2
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gửi
    1.721
    Cảm ơn
    4
    Thanked 102 Times in 78 Posts


    Thuyet minh ve chiec banh chung ngay Tet

    Hồ Sĩ Tá

    Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ
    Cây nêu tràng pháo bánh chưng xanh

    Câu ca dao nói về nét tiêu biểu của Tết xưa, nhưng tại sao gọi là “ bánh chưng xanh” th́ ít người lưu ư đến. Ngày nay, ít nhà giữ được phong tục gói bánh và nấu bánh chưng, chỉ cần bỏ tiền ra là có ngướ nấu bánh và mang đến tận nhà.

    Muốn có nồi bánh chưng ngon, ngay từ đầu tháng chạp người ta đă phải t́m gạo, phải là gạo nếp hoa vàng , rồi đem xay giă cẩn thận bởi quan niệm của dân ta luôn cho rằng ngày Tết cặp bánh chưng là quan trọng nhất. Cặp bánh không chỉ để cúng gia tiên mà c̣n cúng trời đất, cúng vua bếp, cúng thần đất, thần tài nên bánh phải thơm ngon tinh khiết.

    Gạo được ngâm trước một ngày từ tối 29, sáng 30 các bà, các chị dậy sớm đăi gạo, đăi đỗ bằng nước giếng sạch, nước này cũng dùng để luộc bánh. Có người thích luộc lá để lá mềm, dễ gói không hay bị rách nhưng mặt bánh sẽ bị trắng. Người ta thường luộc bằng lá dong sống th́ bánh mới xanh.

    Lá dong thường chọn tàu lá lành, tốt nhất là lá bánh tẻ, không nhất thiết tất cả các tàu lá đều to, v́ lá to dùng bọc ngoài, lá bé hơn gói bên trong hoặc dùng gói bánh nhỏ.

    Rửa lá phải cẩn thận khônng để tàu lá bị dập rách. Gọt sống lá cẩn thận, gọt nông quá th́ sống là dày không “bẻ góc” được, gọt sâu qua th́ sống lá mỏng khi bắt góc th́ sống bị rách. Người sành gói thường gói ba lá, hai lá ngoài, một lá trong. Sau khi đặt lạt, trải lạt, xúc một hoặc nửa bát gạo đổ lên mặt lá dàn đều, đặt một phần đỗ xanh đă đồ chín, đặt miếng thịt tươi đă được tẩm nước mắm hạt tiêu, đặt tiếp một phần đỗ xanh rồi đổ nốt một nửa gạo lên trên giàn đều, vun vén hết những hạt gạo bắn ra ngoài rồi mới bẻ góc để chiếc bánh vuông thành sắc cạnh. Gói xong bắc bếp luộc, thùng bánh có nắp kín để khỏi bị mất nhiệt, thời gian “canh bánh chưng” được mọi người luôn nhớ đến, ai được phân công trông bếp cũng cảm thấy vui. Thế mới hiểu nồi bánh chưng có sức hút người ta biết bao nhiêu. Ngày Tết cả nhà quây quần bên nồi bánh mỗi người góp một câu chuyện vui. Khi đun bánh mỗi người góp một câu chuyện vui. Khi đun bánh bao giờ người ta cũng vần một ấm nước bên cạnh để khi nước cạn đổ vào sẽ chóng sôi. Củi đun bánh cũng cần những thanh củi to để nồi bánh luôn đều lửa, bánh chín rền. Sau khi vớt bánh bao giờ ngướ ta cũng ép bánh, thường dùng hai miếng ván để bánh ở giữa, rồi dùng vật nặng để lên trên. Dưới nặng nước sẽ bị đầy ra, nhưng nếu vật nặng qua bánh sẽ bị vỡ, bị phèo ra nên vật ép bánh cũng phải vừa đủ.

    Bánh chưng xanh để cũng tổ tiên mang đậm nét dân gian trong ngày tết, chúng ta làm tất cả để có cặp bánh chưng vào sáng 30 cúng gia tiên trớ đất là đă tỏ ḷng thành với bậc cố nhân. Bánh chưng bao giờ cũng gói thành cặp là tiêu biểu cho tín ngưỡng phồn thực, sự sinh sôi nảy nở của con người. Cặp bánh chưng trên bàn thờ tổ tiên măi là nét đẹp văn hoá của dân tộc Việt Nam, nó tiêu biểu cho nền văn minh lúa nước, thuyết trời tṛn đất vuông mà ông cha ta thường nhắc tới.


    ST

  3. #3
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gửi
    1.721
    Cảm ơn
    4
    Thanked 102 Times in 78 Posts

    Giai thoại về Nguyễn Trăi.

    Nguyễn Trăi (1380-1442) là khai quốc công thần bậc nhất của triều Lê sơ, ng*ười đă thảo “B́nh Ngô đại cáo”, một thiên cổ hùng văn bất hủ của dân tộc ta. Ông cũng là nhà văn, nhà thơ, nhà chính trị, nhà t*ư tư*ởng, nhà quân sự kiệt xuất. Một danh nhân văn hoá thế giới, đư*ợc cả thế giới tổ chức kỷ niệm (1980) nhân dịp 600 năm ngày sinh Nguyễn Trăi. Nguyễn Trăi hiệu là Ức Trai, quê nội ông là làng Nhị Khê, huyện Th*ường Tín, Hà Tây.
    * * *

    Ư trời ḷng dân

    Thuở giặc Minh sang đô hộ nư*ớc ta, chúng bóc lột nhân dân ta thậm tệ, đặt ra hàng trăm ngh́n thứ thuế vô lư nhằm vơ vét cho đầy túi tham.

    Ngày ngày, nhân dân ta phải xuống bể ṃ ngọc trai, lên rừng săn ngà voi, sừng tê, lùng gỗ thơm, long quư, khai mỏ vàng… Chúng bắt thợ giỏi, gái đẹp đem về n*ước cung phụng.

    Năm 1416, Nguyễn Trăi trốn khỏi Đông Quan, dâng B́nh Ngô sách cho Lê Lợi ở Lỗi Giang, Thanh Hoá.

    Cả hai trí tuệ lớn này hợp sức bàn việc đánh giặc cứu n*ước.

    Thuở đó, ḷng dân c̣n phân tán. Muốn làm cho mọi ng*ười tin tư*ởng vào nghĩa quân Lam Sơn, Nguyễn Trăi sai ngư*ời lấy mỡ viết vào lá cây trên rừng tám chữ:

    Lê Lợi vi quân, Nguyễn Trăi vi thần.

    (Lê Lợi làm vua, Nguyễn Trăi làm tôi).

    Kiến, sâu ăn mỡ khoét lá rỗng thành chữ, lá rụng trôi theo ḍng nư*ớc đến khắp mọi nơi.

    Mọi ng*ười cho là “ư Trời” thư*ơng dân m*ượn tay Lê Lợi, Nguyễn Trăi khử bạo trừ hung nên rủ nhau nư*ờm nư*ợp về Lam Sơn tụ nghĩa và dốc hết ḷng vào cuộc kháng chiến thần thánh.

    * * *

    Câu thơ nên nghĩa

    Sau kháng chiến B́nh Ngô.

    Một buổi chiều từ triều trở về, qua Hồ Tây trời xâm xẩm, Nguyễn Trăi gặp một cô gái đi bán chiếu rong. Rung động trư*ớc vẻ đẹp tuyệt trần của cô gái, tâm hồn thi sĩ bỗng nhiên lên tiếng:

    - Nàng ở đâu ta bán chiếu rong?
    Chẳng hay chiếu ấy hết hay c̣n?
    Xuân thu chừng độ bao nhiêu tuổi
    Đă có chồng ch*ưa, đư*ợc mấy con?

    Ngư*ời con gái nh́n thẳng vào vị đại thần, t́nh tứ đu*ng đư*a cặp mắt lá răm:

    - Thiếp ở Tây Hồ bán chiếu gon
    Nỗi chi ông hỏi hết hay c̣n?
    Xuân xanh vừa độ trăng tṛn lẻ
    Chồng c̣n chư*a có, hỏi chi con?


    Nguyễn Trăi thấy đối đáp trôi chảy, trong ḷng xốn xang. Hỏi tên biết nàng là Thị Lộ, quê làng chiếu Hải Triều, Thái B́nh, mới đem về c*ưới làm vợ.

    Vua Thái Tông cảm v́ sắc, phục v́ tài hay chữ, phong là Nữ học sĩ, th*ường thư*ờng cho vào nơi cung cấm, dạy các cung phi.

    Nguyễn Thị Lộ là ng*ười vợ tâm đắc nhất của Nguyễn Trăi.

    Sưu tầm!

  4. #4
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gửi
    1.721
    Cảm ơn
    4
    Thanked 102 Times in 78 Posts

    Nguyễn Trăi và thơ

    Nguyễn Trăi không những là nhân chứng cho những biến động băo táp của lịch sử thế kỷ XV mà c̣n là người trực tiếp tham gia vào chính những biến động đó. Ngay cả cuộc đời ông cũng là một cuộc đời đầy những băo táp, thăng trầm. V́ vậy, thơ ông thể hiện rơ một vốn sống đă ở độ chín, một suy nghĩ sâu sắc về cuộc đời đầy phức tạp và một t́nh cảm nhân hậu đối với thiên nhiên, con người.

    Qua thơ Nguyễn Trăi, ta có thể hiểu thêm rất nhiều điều về con người Nguyễn Trăi với những khát vọng lớn lao và những tâm tư u uất.

    I. T̀NH YÊU QUÊ HƯƠNG TRONG THƠ NGUYỄN TRĂI

    - Đối với Nguyễn Trăi, quê hương chính là nơi xuất phát của những t́nh cảm cao đẹp. Thơ ông nói rất nhiều về quê hương bằng một t́nh cảm thiết tha, lắng đọng.

    Có khi, đó là những hồi ức đẹp thời thơ ấu:

    Quê cũ nhà ta thiếu của nào
    Rau trong nội, cá trong ao
    (Ngôn chí 13)
    Có khi, đó là nỗi nhớ day dứt trong những năm tháng xa quê t́m đường cứu nước:

    Cố sơn tạc dạ triền thanh mộng
    Nguyệt măn B́nh Than tửu măn thuyền
    (Mạn hứng)

    Có khi, đó là t́nh cảm thân thiết của tác giả đối với quê cũ, ngày trở về ở ẩn:

    Côn Sơn suối chảy ŕ rầm
    Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai
    (Côn Sơn ca)

    Nhà thơ cảm thấy hạnh phúc với cuộc sống thanh bần, trong sách nơi quê hương, nơi thanh lọc tâm hồn, ǵn giữ phẩm giá người quân tử:

    Ngày tháng kê khoai những sản hằng
    Tường đào ngơ mận ngại thung thăng

    Yêu quê hương, nhà thơ luôn trăn trở với khát vọng: làm ǵ cho quê hương

    Gia sơn cách đường ngh́n dặm
    Sự nghiệp buồn, đêm trống ba


    II. TẤM L̉NG ƯU QUỐC ÁI DÂN SÂU NẶNG

    Trong thơ Nguyễn Trăi, ta thường bắt gặp những từ tiên ưu, ưu ái. Đây là nét ngời sáng trong tâm hồn Nguyễn Trăi:

    Bui một tấc ḷng ưu ái cũ
    Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông
    (Thuật hứng 5)


    Oải ốc thê thân kham độ lăo
    Thương sinh tại niệm độc tiên ưu
    B́nh sinh độc băo tiên ưu chí
    Tọa ủng hàn khâm dạ bất miên
    Gia sơn đường cách ngh́n dặm
    Ưu ái ḷng phiền nửa đêm
    Tóc nên bạc bởi ḷng ưu ái,..

    Xuất phát từ một câu nói nổi tiếng của Phạm Trọng Yêm đời Tống, từ tiên ưu thể hiện rơ quan niệm sống cao cả: yêu nước thương dân, chiến đấu suốt đời v́ nước v́ dân.

    Suốt đời ḿnh, Nguyễn Trăi xem công danh chỉ là điều kiện giúp đời:

    Một thân lẩn quất đường khoa mục
    Hai chữ mơ màng việc quốc gia
    V́ nợ quân thân chưa báo được
    Hài hoa c̣n bận dặm thanh vân
    (Ngôn chí 11)

    Nhà thơ luôn ư thức rơ ràng về trách nhiệm của một kẻ sĩ chân chính:

    Đầu tiếc đội ṃn khăn Đỗ Phủ
    Tài c̣n lọ hái cúc Uyên Minh
    (Mạn thuật 9)


    Quốc phú binh cường chăng có chước
    Bằng tôi nào thuở ích chưng dân

    Những khát khao, mơ ước của Nguyễn Trăi luôn đi trước, chỉ đạo mọi hành động:


    Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
    Dân giàu đủ khắp đ̣i phương
    (BKCG 43)


    Vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn
    Dường ấy ta đà phỉ sở nguyền
    (Tự thán 4)

    Từ mơ ước, tác giả thể hiện rơ một quyết tâm hành động:

    Khó ngặt qua ngày xin sống
    Xin làm đời trị mỗ thái b́nh
    (Tự thán 28)


    Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược
    Có nhân, có trí, có anh hùng
    (BKCG 5)

    Những năm cuối đời nhiều bất hạnh, thơ Nguyễn Trăi đôi khi lắng đọng một nỗi niềm u uất, chán nản, bi quan, thậm chí thấm thía giọng điệu mỉa mai cho sự nghiệp anh hùng dở dang của ḿnh:

    Say mùi đạo trà ba chén
    Tả ḷng phiền thơ bốn câu
    Uất uất thốn hoài vô nại xứ
    Thuyền song thôi chẩm đáo thiên minh

    Có lúc, ông mỉa mai chính bản thân ḿnh:

    Cưỡi gió lên cao chín vạn tầng
    Xưa kia lầm ví với chim bằng

    Có lúc, thơ ông thấm lạnh một nỗi cô đơn tê tái trong những đêm dài trên núi Côn Sơn:

    Rượu đối cầm đâm thơ một thủ
    Ta cùng bóng lẫn nguyệt ba người

    Có lúc, ông ví ḿnh như một chiếc thuyền con, giữa trời chiều mênh mông chẳng biết ghé bến nào:

    Thuyền mọn c̣n chèo chẳng khứng đỗ
    Trời ban tối biết về đâu

    Tuy nhiên, vượt qua tất cả những bất hạnh, thăng trầm của cuộc đời làm quan bị ganh ghét, đố kỵ, Nguyễn Trăi vẫn giữ cho ḿnh Một tấc ḷng son c̣n nhớ chúa- Tóc hai phần bạc bởi thương thu. Có âm điệu buồn trong thơ ông nhưng đó không phải là âm điệu chủ đạo. Vấn đề lớn lao nhất măi làm ông quan tâm chính là ưu quốc, ái dân, lo cho đất nước và thương nhân dân. Điều làm tỏa sáng nhân cách lớn lao của một người anh hùng, một kẻ sĩ chân chính.

    III. MỘT TRÍ TUỆ UYÊN BÁC LUÔN T̀M HIỂU ĐỂ NẮM BẮT NHỮNG QUY LUẬT VẬN ĐỘNG CỦA ĐỜI SỐNG

    Trong thơ ông, ta thường thấy những tư tưởng triết học phương Đông được dân tộc hóa và những kết luận có giá trị về quy luật của đời sống. Nhà thơ là con người giàu suy tư để dằn vặt với nỗi đau hữu hạn của đời người cho dù đó là cuộc đời của người anh hùng:

    Kim cổ vô cùng giang mạc mạc
    Anh hùng hữu hận diệp tiêu tiêu
    (Văng hứng)


    Giang san như tạc anh hùng thệ
    Thiên địa vô t́nh sự biến đa
    Họa phúc hữu môi phi nhất nhật
    Anh hùng di hận kỷ thiên niên
    (Quan hải)

    Nhà thơ có những kết luận có giá trị về vai tṛ và sức mạnh vĩ đại của quần chúng, những người làm nên lịch sử:

    Phúc chu thủy tín dân do thủy
    Thị hiểm nan bằng mệnh tại thiên
    (Quan hải)


    Ở yên th́ nhớ ḷng xung đột
    Ăn lộc đền ơn kẻ cấy cày

    Có khi, chính vốn sống, sự nếm trải trong cuộc đời thăng trầm đă giúp nhà thơ thấy rơ hơn bản chất của ḷng người:

    Dễ hay ruột biển sâu cạn
    Khôn biết ḷng người ngắn dài
    Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn
    Ḷng người quanh nữa nước non quanh

    Phải là người có vốn sống, sự từng trải mới có thể có những nhận xét sâu sắc về cuộc đời:

    Tĩnh lư càn khôn kinh vạn biến
    Nhàn trung nhật nguyệt trị thiên kim
    (Thu nguyệt ngẫu thành)


    IV. MỘT CHÍ KHÍ HÀO HÙNG, MỘT NHÂN CÁCH CAO THƯỢNG:

    Mạnh mẽ, hào hùng, khẳng khái, trong sách, đó là nhân cách và chí khí Nguyễn Trăi được thể hiện qua thơ ông.

    - Nhà thơ luôn có ư thức vươn lên trong thử thách để khẳng định chí khí hào hùng của ḿnh:

    Khó khăn th́ mặc có màng bao
    Càng khó bao nhiêu chí mới hào

    Ông thường thể hiện chí chí của ḿnh bằng những h́nh ảnh kỳ vĩ:

    Nghĩa khí tảo không thiên chướng vụ
    Tráng tâm hô khởi bán phàm phong
    (Quá hải)

    Với bản lĩnh và nghị lực của một người anh hùng, ông luôn tự hào, tự tin về ḿnh:

    Thừa chỉ ai rằng thời khó ngặt
    Túi thơ chứa hết mọi giang san
    (Tự thán 2)


    Gánh khôn đương quyền tướng phủ
    Lui ngơ được đất Nho thần
    (Trần t́nh 1)

    V́ tự tin, tự hào nên trong bất cứ hoàn cảnh nào, nhà thơ vẫn giữ được phong thái ung dung, tự tại:

    Đủng đỉnh chiều hôm dắt tay
    Trông thế giới phút chim bay
    Đạp áng mây, ôm bó củi
    Ngồi bên suối gác cần câu
    Quét trúc bước qua ḷng suối
    Thưởng mai về đạp bóng trăng

    Không chỉ có phong thái ung dung tự tại, cách nói của nhà thơ cũng thật khẳng khái, mạnh mẽ:

    Dầu bụt dầu tiên ai kẻ hỏi
    Ông này đă có thú ông này
    Chớ cậy sang mà ép nề
    Lời chẳng phải vẫn không nghe

    - Là một kẻ sĩ có nhân cách cao thượng Nguyễn Trăi luôn tự hào về những năm tháng làm quan thanh liêm của ḿnh:

    Nhất phiến đan tâm chân hống hỏa
    Thập niên thanh chức ngọc hồ băng

    Đó là một con người Cốt lănh hồn thanh chăng khứng hóa, luôn sống thanh bạch, giản dị, không chấp nhận luồn cúi để nhận bổng lộc:

    Mắt ḥa xanh đầu dễ bạc
    Lưng không uốn, lộc nên từ
    Cơm kẻ bất nhân ăn, ấy chớ
    Aïo người vô nghĩa mặc, chẳng thà

    Đó cũng là con người trải bao thăng trầm dâu bể, bao đau đớn bất hạnh vẫn cứ nh́n cuộc đời bằng con mắt xanh, con mắt tin yêu, hy vọng:

    Tuổi cao tóc bạc cái râu bạc
    Nhà ngặt đèn xanh con mắt xanh

    Không những thế, Nguyễn Trăi luôn luôn có ư thức bảo vệ nhân cách trong sáng của ḿnh, chống lại mọi cám dỗ của đời sống:
    Ngọc lành nào có tơ vết
    Vàng thực âu chi lửa thiêu

    V. MỘT TÂM HỒN NHẠY CẢM RỘNG MỞ

    Thơ Nguyễn Trăi luôn chan ḥa t́nh cảm đối với thiên nhiên, con người. Ông có cách nh́n, cách cảm tuyệt với trước vẻ đẹp của thiên nhiên, chân thành tha thiết trong t́nh bạn, hóm hỉnh nhưng tế nhị, sâu sắc trong t́nh người.

    - Ông xem thiên nhiên là bạn, láng giềng, anh em, những người an ủi ḿnh trên đỉnh Côn Sơn cô độc

    C̣ nằm hạc lặc nên bầy bạn
    Ủ ấp cùng ta làm cái con
    Láng giềng một áng mây bạc
    Khách khứa hai ngàn núi xanh

    V́ yêu thiên nhiên nên Nguyễn Trăi đă viết được những câu thơ tuyệt vời về vẻ đẹp của thiên nhiên:

    Nước biếc non xanh thuyền gối băi
    Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu
    Hương cách gác vân thu lạnh lạnh
    Thuyền kề băi tuyết nguyệt chênh chênh

    - Với bạn, tác giả luôn bày tỏ tấm ḷng chân thành tha thiết:

    Có thuở biếng thăm bạn cũ
    Ḷng thơ ngàn dặm nguyệt ba canh
    Danh thơm một áng mây nổi
    Bạn cũ ba thu lá tàn

    - Với con người, tác giả tỏ ra rất sâu sắc, nhạy cảm trong khi phát hiện những biến đổi, xao động phức tạp trong tâm hồn con người: Bài thơ Tiếc cảnh 10, Cây chuối, cảnh hè,..

    VI. NGHỆ THUẬT THƠ

    Sáng tác thơ của Nguyễn Trăi có trên 100 bài thơ chữ Hán và 254 bài thơ chữ Nôm. Đặc biệt, qua Quốc âm thi tập, ta có thể thấy rơ những đóng góp đáng trân trọng của Nguyễn Trăi về nhiều phương diện mà tiêu biểu nhất là phương diện thể thơ và ngôn từ:

    1. Về thể thơ thất ngôn xen lục ngôn trong thơ Nôm Nguyễn Trăi

    - Đây là một thể thơ được sáng tác dựa trên quy cách và cấu trúc của thơ Đường luật. Điểm khác biệt là ở hiện tượng xen kẽ những câu sáu tiếng vào các câu 7 tiếng của bài thơ bát cú lẫn tứ tuyệt luật Đường.

    - Số lượng các bài thơ được sáng tác theo h́nh thức này rất lớn (186/254) chứng tỏ rằng Nguyễn Trăi hoàn toàn có ư thức khi vận dụng thể thơ này như một sự thử nghiệm cho việc t́m ra một thể thơ mới cho dân tộc, chống lại ảnh hưởng quá sâu sắc của thi ca Trung Hoa.

    - Xét về tác dụng nghệ thuật, câu thơ 6 tiếng trong bài thơ thất ngôn xen lục ngôn khiến lời thơ trở nên cô đọng, giản dị, ư thơ mạnh mẽ, sắc sảo, thường phù hợp với việc diễn đạt những chân lư của đời sống, những quyết tâm hành động của nhà thơ. Ngoài ra, cách ngắt nhịp phong phú của câu thơ 6 chữ khiến nó có khả năng diễn đạt được những cung bậc t́nh cảm đặc biệt tinh tế, sâu sắc của con người.

    - Tuy nhiên, sự xuất hiện của các câu thơ 6 chữ đă làm phá vỡ kết cấu hoàn chỉnh của bài thơ Đường luật, dẫn đến việc thất niêm, thất luật. V́ vậy, thể thơ này ngày càng ít đực sử dụng, nhường chỗ cho những thể thơ dân tộc khác hoàn chỉnh hơn về mặt cấu trúc và niêm luật.

    2. Ngôn từ thơ Nôm Nguyễn Trăi:

    - Bị chi phối bởi quan niệm thẩm mỹ của văn chương trung đại, thơ Nôm Nguyễn Trăi vẫn mang tính uyên bác, sử dụng nhiều điển cố và các h́nh ảnh tượng trưng ước lệ.

    - Tuy nhiên, nhờ sử dụng chữ Nôm, thơ Nguyễn Trăi đă ngày càng dung dị, tự nhiên, gần gũi hơn với cuộc sống của nhân dân lao động. Từ ngữ trong thơ Nôm thường có sức gợi tả mạnh và đặc biệt độc đáo.

    - Nhờ chữ Nôm, Nguyễn Trăi đă thành công trong việc đưa vào thơ ca bác học nguồn thi liệu vô cùng quư giá của tục ngữ, thành ngữ, ca dao.

    Nguồn: Nguyễn Trăi.net

Từ khóa cho bài viết này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của ḿnh
  •