1. Đăng nhập
  2. Đăng kư
Hiện kết quả từ 1 tới 2 của 2
  1. #1
    Tham gia ngày
    Jun 2012
    Bài gửi
    512
    Cảm ơn
    1
    Thanked 18 Times in 18 Posts

    Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của Tràng Giang trong bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận

    ►Xem: 8844 ►Trả Lời: 1
    ►Chia Sẽ:
    28-06-2012

    Vẻ đẹp cổ điển của "Tràng giang"

    Đề: Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của Tràng Giang trong bài thơ “Tràng Giang” của Huy Cận

    Bài Viết:
    “Tràng Giang” là một trong những bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất cho phong cách thơ của Huy Cận trước cách mạng tháng Tám. Bài thơ được viết vào mùa thu năm 1939, in trong tập Lửa Thiêng. Cảm xúc thơ được khơi gợi chủ yếu từ cảnh sông Hồng mênh mang sóng nước… Với bút pháp nghệ thuật đặc sắc, tác giả đă vẽ lên một bức tranh thơ mang vẻ đẹp ḥa quyện giữ cổ điển và hiện đại, đồng thời bộc lộ cái tôi cô đơn, cái t́nh đời, ḷng yêu nước thầm kín mà tha thiết.

    Tựa đề của bài “Tràng Giang” xuất phát từ nghĩa Hán-Việt. “Tràng” là dài, “Giang” là sông, kết hợp lại “Tràng Giang” mang nghĩa là “Sông Dài”. Nhưng tại sao nhà thơ lại không đặt nhan đề của bài là “Sông Dài” mà lại lấy là “Tràng Giang”. Bởi lẽ “Tràng Giang” mang một sắc thái cổ kính, trang nhă, vần “ang” gợi nên sự mênh mang, bát ngát của sóng nước, c̣n là nỗi niềm của nhà thơ cũng mênh mang, vô định. Hai từ “Tràng Giang” như cho ta một nét buồn man mác, mang màu sắc cổ điển. “Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” đă toát lên không chỉ là cảnh mà c̣n là t́nh. Cảnh “trời rộng sông dài” c̣n t́nh người “bâng khuâng”. Bên cạnh đó, câu đề từ cũng gợi ra nét nhạc chủ âm cho bài thơ. Nét đẹp cổ điển của Tràng giang hiện lên qua những h́nh ảnh thiên nhiên hung vĩ nhưng lại mang nỗi buồn da diết: “Sóng gợn Tràng Giang buồn điệp điệp”. Một h́nh ảnh đẹp đẽ của sóng gợn nhưng từ ngữ “buồn điệp điệp” ở cuối câu thơ đă làm cho ta một cảm nhận về nỗi buồn dạt dào. H́nh ảnh: “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc” vẽ lên vẻ đẹp thiên nhiên tráng lệ, hung vĩ, nhưng cũng không làm trôi đi nỗi sầu. Câu thơ cuối bài: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” được gợi từ hai câu thơ trong bài Hoàng Hạc lâu của nhà thơ Thôi Hiệu thời Đường, được nhà thơ Tản Đà dịch: “Quê hương khuất bóng hoàng hôn – Trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai”. Qua đó nói lên nỗi sầu xa xứ, nỗi buồn đau trăn trở và them da diết, ư thơ thêm sâu, t́nh thơ thêm lặng.

    Cùng với nét đẹp cổ diển, vẻ đẹp hiện đại trong Tràng Giang cũng được nhà thơ thể hiện rất đặc sắc với bút pháp nghệ thuật điêu luyện. Những h́nh ảnh thơ rất b́nh dị, rất đời thường tưởng chừng như vô nghĩa nhưng lại rất có ư nghĩa: “ Con thuyền xuôi mái nước song song” đă tô đậm sự lẻ loi, đồng thời là sự chia li, là sự ám ảnh về những kiếp người lênh đênh, lạc loài: “Củi một cành khô lạc mấy ḍng”. H́nh ảnh thơ: “Lơ thơ cồn nhỏ - Đâu tiếng làng xa – nắng xuống trời lên – Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”, là không gian được mở rộng và đẩy cao hơn, cảnh vật càng thêm vắng lặng, nhà thơ lắng nghe âm thanh cuộc sống nhưng chỉ cảm nhận được đây chính là tiếng dội hoang vắng của cơi long. Tác giả khẳng định sự có mặt của con người nhưng chỉ là để phủ nhận nó, chỉ c̣n thiên nhiên đẹp, cô quạnh. H́nh ảnh: “bèo dạt về đâu – Mênh mông không một chuyến ḍ ngang” đă khắc sâu nơi buồn về sự li tán, tan tác. “Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa” biểu tượng cho cái tôi nhỏ nhoi, cô độc trước cuộc đời ảm đạm, không có niềm vui. Vẻ đẹp hiện đại của bài thơ với tất cả những h́nh ảnh dường như vô nghĩa lí ấy đă tạo cho “Tràng Giang” một cái tính không bao giờ tắt trong bức tranh thiên nhiên mịt mờ, ảm đạm, đẹp nhưng quá đơi buồn tẻ.

    Sự kết hợp của hai vẻ đẹp cổ điển và hiện đại đă tạo nên một “Tràng Giang” cao đẹp, rộng lớn, mênh mang, hùng vĩ. Qua đó, Huy Cận đă bộc lộ nơi sầu của một cái tôi cô đơn trước thiên nhiên hoang sơ nhưng thấm đượm t́nh người và ḷng yêu nước thầm lặng, da diết..

    Xem thêm bài khác

  2. #2
    Tham gia ngày
    Jun 2012
    Bài gửi
    512
    Cảm ơn
    1
    Thanked 18 Times in 18 Posts

    Phân tích vẻ đẹp cổ điển mà hiện đại trong bài thơ Tràng Giang của Huy Cận



    Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận, với giọng thơ rất riêng đă khẳng định tên tuổi của ḿnh trong phong trào thơ mới 1930-1945.

    Ông vốn quê quán Hương Sơn, Hà Tĩnh, sinh năm 1919 và mất năm 2005. Trước Cách mạng tháng tám, thơ ông mang nổi sầu về kiếp người và ca ngợi cảnh đẹp của thiên nhiên, tạo vật với các tác phẩm tiêu biểu như: "Lửa thiêng", "Vũ trụ ca", Kinh cầu tự". Nhưng sau Cách mạng tháng tám, hồn thơ của ông đă trở nên lạc quan, được khơi nguồn từ cuộc sống chiến đấu và xây dựng đất nước của nhân dân lao động: "Trời mỗi ngày lại sáng", "Đất nở hoa", "Bài thơ cuộc đời"...

    Vẻ đẹp thiên nhiên nỗi ưu sầu nhân thế, một nét thơ tiêu biểu của Huy Cận, được thể hiện khá rơ nét qua bài thơ "Tràng Giang". Đây là một bài thơ hay, tiêu biểu và nổi tiếng nhất của Huy Cận trước Cách mạng tháng tám. Bài thơ được trích từ tập "Lửa thiêng", được sáng tác khi Huy Cận đứng ở bờ Nam bến Chèm sông Hồng, nh́n cảnh mênh mông sóng nước, ḷng vời vợi buồn, cám cảnh cho kiếp người nhỏ bé, nổi trôi giữa ḍng đời vô định. Mang nỗi u buồn hoài như thế nên bài thơ vừa có nét đẹp cổ điển lại vừa đượm nét hiện đại, đem đến sự thích thú, yêu mến cho người đọc.

    Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài
    Sóng gợi tràng giang buồn điệp điệp
    ....
    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

    Ngay từ thi đề, nhà thơ đă khéo gợi lên vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại cho bài thơ. "Tràng giang" là một cách nói chệch đầy sáng tạo của Huy Cận. Hai âm "anh" đi liền nhau đă gợi lên trong người đọc cảm giác về con sông, không chỉ dài vô cùng mà c̣n rộng mênh mông, bát ngát. Hai chữ "tràng giang" mang sắc thái cổ điển trang nhă, gợi liên tưởng về ḍng Trường giang trong thơ Đường thi, một ḍng sông của muôn thuở vĩnh hằng, ḍng sông của tâm tưởng.

    Tứ thơ "Tràng giang" mang nét cổ điển như thơ xưa: Nhà thơ thường ẩn đằng sau cái mênh mông sóng nước, không như các nhà thơ mới thường thể hiện cái tôi của ḿnh. Nhưng nếu các thi nhân xưa t́m đến thiên nhiên để mong hoà nhập, giao cảm, Huy cận lại t́m về thiên nhiên để thể hiện nổi ưu tư, buồn bă về kiếp người cô đơn, nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm, ẩn chứa một tinh thần hiện đại.

    Câu đề từ giản dị, ngắn gọn với chỉ bảy chữ nhưng đă thâu tóm được cảm xúc chủ đạo của cả bài: "Bâng khuâng trời rộng nhớ sống dài". Trước cảnh "trời rộng", "sông dài" sao mà bát ngát, mênh mông của thiên nhiên, ḷng con người dấy lên t́nh cảm "bâng khuâng" và nhớ. Từ láy "bâng khuâng" được sử dụng rất đắc địa, nó nói lên được tâm trạng của chủ thể trữ t́nh, buồn bă, u sầu, cô đơn, lạc lơng. Và con "sông dài", nghe miên man tít tắp ấy cứ vỗ sóng đều đặn khắp các khổ thơ, cứ cuộn sóng lên măi trong ḷng nhà thơ làm rung động trái tim người đọc.

    Và ngay từ khổ thơ đầu, người đọc đă bắt gặp những con sóng ḷng đầy ưu tư, sầu năo như thế:

    Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp,
    Con thuyền xuôi mái nước song song.
    Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
    Củi một cành khô lạc mấy ḍng.

    Vẻ đẹp cổ điển của bài thơ được thể hiện khá rơ ngay từ bốn câu đầu tiên này. Hai từ láy nguyên "điệp điệp", "song song" ở cuối hai câu thơ mang đậm sắc thái cổ kính của Đường thi. Và không chỉ mang nét đẹp ấy, nó c̣n đầy sức gợi h́nh, gợi liên tưởng về những con sóng cứ loang ra, lan xa, gối lên nhau, ḍng nước th́ cứ cuốn đi xa tận nơi nào, miên man miên man. Trên ḍng sông gợi sóng "điệp điệp", nước "song song" ấy là một "con thuyền xuôi mái", lững lờ trôi đi. Trong cảnh có sự chuyển động là thế, nhưng sao chỉ thấy vẻ lặng tờ, mênh mông của thiên nhiên, một ḍng "tràng giang" dài và rộng bao la không biết đến nhường nào.

    Ḍng sông th́ bát ngát vô cùng, vô tận, nỗi buồn của con người cũng đầy ăm ắp trong ḷng

    Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
    Củi một cành khô lạc mấy ḍng.

    Thuyền và nước vốn đi liền nhau, thuyền trôi đi nhờ nước xô, nước vỗ vào thuyền. Thế mà Huy Cận lại thấy thuyền và nước đang chia ĺa, xa cách "thuyền về nước lại", nghe sao đầy xót xa.

    Chính lẽ v́ thế mà gợi nên trong ḷng người nỗi "sầu trăm ngả". Từ chỉ số nhiều "trăm" hô ứng cùng từ chỉ số "mấy" đă thổi vào câu thơ nỗi buồn vô hạn.

    Tâm hồn của chủ thể trữ t́nh được bộc lộ đầy đủ nhất qua câu thơ đặc sắc: "Củi một càng khô lạc mấy ḍng". Huy Cận đă khéo dùng phép đảo ngữ kết hợp với các từ ngữ chọn lọc, thể hiện nổi cô đơn, lạc lơng trước vũ trụ bao la. "Một" gợi lên sự ít ỏi, nhỏ bé, "cành khô" gợi sự khô héo, cạn kiệt nhựa sống, "lạc" mang nỗi sầu vô định, trôi nổi, bập bềnh trên "mấy ḍng" nước thiên nhiên rộng lớn mênh mông. Cành củi khô đó trôi dạc đi nơi nào, h́nh ảnh giản dị, không tô vẽ mà sao đầy rợn ngợp, khiến ḷng người đọc cảm thấy trống vắng, đơn côi.

    Nét đẹp cổ điển "tả cảnh ngụ t́nh" thật khéo léo, tài hoa của tác giả, đă gợi mở về một nỗi buồn, u sầu như con sóng sẽ c̣n vỗ măi ở các khổ thơ c̣n lại để người đọc có thể cảm thông, thấu hiểu về một nét tâm trạng thường gặp ở các nhà thơ mới. Nhưng bên cạnh đó ta cũng nh́n ra một vẻ đẹp hiện đại rất thi vị của khổ thơ. Đó là ở cách nói "Củi một cành khô" thật đặc biệt, không chỉ thâu tóm cảm xúc của toàn khổ, mà c̣n hé mở tâm trạng của nhân vật trữ t́nh, một nỗi niềm đơn côi, lạc lơng.

    Nỗi ḷng ấy được gợi mở nhiều hơn qua h́nh ảnh quạnh vắng của không gian lạnh lẽo:

    Lơ thơ cồn nhỏ gió đ́u hiu
    Đâu tiếng làng xa văn chợ chiều.

    Hai từ láy "lơ thơ" và "đ́u hiu" được tác giả khéo sắp xếp trên cùng một ḍng thơ đă vẽ nên một quang cảnh vắng lặng. "Lơ thơ" gợi sự ít ỏi, bé nhỏ "đ́u hiu" lại gợi sự quạnh quẽ. Giữa khung cảnh "cồn nhỏ", gió th́ "đ́u hiu", một khung cảnh lạnh lẽo, tiêu điều ấy, con người trở nên đơn côi, rợn ngộp đến độ thốt lên "Đâu tiếng làng xa văn chợ chiều". Chỉ một câu thơ mà mang nhiều sắc thái, vừa gợi "đâu đó", âm thanh xa xôi, không rơ rệt, có thể là câu hỏi "đâu" như một nỗi niềm khao khát, mong mỏi của nhà thơ về một chút sự hoạt động, âm thanh sự sống của con người. Đó cũng có thể là "đâu có", một sự phủ định hoàn toàn, chung quanh đây chẳng hề có chút ǵ sống động để xua bớt cái tịch liêu của thiên nhiên.

    Đôi mắt nhân vật trữ t́nh nh́n theo nắng, theo ḍng trôi của sông:

    "Nắng xuống, trời lên sâu chót vót,
    Sông dài, trời rộng, bến cô liêu."

    "Nắng xuống, trời lên" gợi sự chuyển động, mở rộng về không gian, và gợi cả sự chia ĺa: bởi nắng và trời mà lại tách bạch khỏi nhau. "sâu chót vót" là cảnh diễn đạt mới mẻ, đầy sáng tạo của Huy Cận, mang một nét đẹp hiện đại. Đôi mắt nhà thơ không chỉ dừng ở bên ngoài của trời, của nắng, mà như xuyên thấu và cả vũ trụ, cả không gian bao la, vô tận. Cơi thiên nhiên ấy quả là mênh mông với "sông dài, trời rộng", c̣n những ǵ thuộc về con người th́ lại bé nhỏ, cô đơn biết bao: "bến cô liêu".

    Vẻ đẹp cổ điển của khổ thơ hiện ra qua các thi liệu quen thuộc trong Đường thi như: sông, trời, nắng, cuộc sông cón người th́ buồn tẻ, chán chường với "văn chợ chiều", mọi thứ đă tan ră, chia ĺa.

    Nhà thơ lại nh́n về ḍng sông, nh́n cảnh xung quanh mong mỏi có chút ǵ quen thuộc mang lại hơi ấm cho tâm hồn đang ch́m vào giá lạnh, về cô đơn. Nhưng thiên nhiên đă đáp trả sự khao khát ấy bằng những h́nh ảnh càng quạnh quẽ, đ́u hiu:

    Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng,
    Mênh mông không một chuyến đ̣ ngang.
    Không cần gợi chút niềm thân mật,
    Lặng lẽ bờ xanh tiếp băi vàng.

    H́nh ảnh cánh bèo trôi bồng bềnh trên sông là h́nh ảnh thường dùng trong thơ cổ điển, nó gợi lên một cái ǵ bấp bênh, nổi trôi của kiếp người vô định giữa ḍng đời. Nhưng trong thơ Huy Cận không chỉ có một hay hai cánh bèo, mà là "hàng nối hàng". Bèo trôi hàng hàng càng khiến ḷng người rợn ngộp trước thiên nhiên, để từ đó cơi ḷng càng đau đớn, cô đơn. Bên cạnh hàng nối hàng cánh bèo là "bờ xanh tiếp băi vàng" như mở ra một không gian bao la vô cùng, vô tận, thiên nhiên nối tiếp thiên nhiên, dường không có con người, không có chút sinh hoạt của con người, không có sự giao hoà, nối kết:

    Mênh mông không một chuyến đ̣ ngang
    Không cầu gợi chút niềm thân mật.

    Tác giả đưa ra cấu trúc phủ định. "...không...không" để phủ định hoàn toàn những kết nối của con người. Trước mắt nhà thơ giờ đây không có chút ǵ gợi niềm thân mật để kéo ḿnh ra khỏi nỗi cô đơn đang bao trùm, vây kín, chỉ có một thiên nhiên mênh mông, mênh mông. Cầu hay chuyến đ̣ ngang, phương tiện giao kết của con người, dường như đă bị cơi thiên nhiên nhấn ch́m, trôi đi nơi nào.

    Huy Cận lại khéo vẽ nét đẹp cổ điển và hiện đại cho bầu trời trên cao:

    Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
    Chim nghiêng cánh nhỏ bóng chiều sa.

    Bút pháp chấm phá với "mây cao đùn núi bạc" thành "lớp lớp" đă khiến người đọc tưởng tượng ra những núi mây trắng được ánh nắng chiếu vào như dát bạc. H́nh ảnh mang nét đẹp cổ điển thật trữ t́nh và lại càng thi vị hơn khi nó được khơi nguồn cảm hứng từ một tứ thơ Đường cổ của Đỗ Phủ:

    Mặt đất mây đùn cửa ải xa.

    Huy Cận đă vận dụng rất tài t́nh động từ "đùn", khiến mây như chuyển động, có nội lực từ bên trong, từng lớp từng lớp mây cứ đùn ra măi. Đây cũng là một nét thơ đầy chất hiện đại, bởi nó đă vận dụng sáng tạo từ thơ cổ điển quen thuộc.

    Và nét hiện đại càng bộc lộ rơ hơn qua dấu hai chấm thần t́nh trong câu thơ sau. Dấu hai chấm này gợi mối quan hệ giữa chim và bóng chiều: Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều, cùng sa xuống mặt tràng giang, hay chính bóng chiều sa, đè nặng lên cánh chim nhỏ làm nghiêng lệch cả đi. Câu thơ tả không gian nhưng gợi được thời gian bởi nó sử dụng "cánh chim" và "bóng chiều", vốn là những h́nh tượng thẩm mỹ để tả hoàng hôn trong thơ ca cổ điển.

    Nhưng giữa khung cảnh cổ điển đó, người đọc lại bắt gặp nét tâm trạng hiện đại:

    Ḷng quê dợn dợn vời con nước,
    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.

    "Dợn dợn" là một từ láy nguyên sáng tạo của Huy Cận, chưa từng thấy trước đó. Từ láy này hô ứng cùng cụm từ "vời con nước" cho thấy một nổi niềm bâng khuâng, cô đơn của "ḷng quê". Nỗi niềm đó là nỗi niềm nhớ quê hương khi đang đứng giữa quê hương, nhưng quê hương đă không c̣n. Đây là nét tâm trạng chung của nhà thơ mới lúc bây giờ, một nỗi ḷng đau xót trước cảnh mất nước.

    Bên cạnh tâm trạng hiện đại ấy là từ thơ cổ điện được gợi từ câu thơ: "Trên sông khói sóng cho buồn ḷng ai" của Thôi Hiệu. Xưa Thôi Hiệu cần vịn vào sóng để mà buồn, mà nhớ, c̣n Huy Cận th́ buồn mà không cần ngoại cảnh, bởi từ nỗi buồn nó đă sâu sắc lắm rồi. Thế mới biết tấm ḷng yêu quê hương thắm thiết đến nhường nào của nhà thơ hôm nay.

    Cả bài thơ vừa mang nét đẹp cổ điển, vừa mang nét hiện đại. Vẻ đẹp cổ điển được thể hiện qua lối thơ bảy chữ mang đậm phong vị Đường thi, qua cách dùng từ láy nguyên, qua việc sử dụng các thi liệu cổ điển quen thuộc như: mây, sông, cánh chim... Và trên hết là cách vận dụng các tứ thơ cổ điển, gợi cho bài thơ không khí cổ kính, trầm mặc của thơ Đường.

    Vẻ đẹp hiện đại lan toả qua các câu chữ sáng tạo, độc đáo của nhà thơ như "sâu chót vót", dấu hai chấm thần t́nh. Nhưng vẻ đẹp ấy đọng lại cuối cùng là tâm trạng nhớ quê hương ngay khi đứng giữa quê hương, nét tâm trạng hiện đại của các nhà tri thức muốn đóng góp sức ḿnh cho đất nước mà đành bất lực, không làm ǵ được.

    Bài thơ sẽ c̣n măi đi vào ḷng người với phong cách tiêu biểu rất "Huy Cận", với vẻ đẹp cổ điển trang nhă sâu lắng và vẻ đẹp hiện đại mang nặng một tấm ḷng yêu nước, yêu quê hương.

    (KĐH - Sưu tầm)

Từ khóa cho bài viết này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của ḿnh
  •