1. Đăng nhập
  2. Đăng kư
Hiện kết quả từ 1 tới 3 của 3
  1. #1
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gửi
    1.721
    Cảm ơn
    4
    Thanked 102 Times in 78 Posts

    Cảm nhận bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử

    ►Xem: 38204 ►Trả Lời: 2
    ►Chia Sẽ:
    28-06-2012

    Bài làm 1:

    Cảm nhận về bài thơ


    Cảm nhận thơ trữ t́nh xét cho cùng là cảm nhận "cái t́nh" trong thơ và tâm trạng của nhân vật trữ t́nh trước thiên nhiên, vũ trụ, đất trời. Đến với thơ ca lăng mạn Việt Nam, giai đoạn 1932 -1945 "ta thoát lên trên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường t́nh cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu" (Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam). Đúng thế, bạn đọc đương thời và hôm nay yêu thơ của Hàn Mặc Từ bởi chất "điên cuồng" của nó. Chính "chất điên" ấy đă làm nên phong cách nghệ thuật độc đáo, riêng biệt, mới mẻ của Hàn Mặc Tử. "Chất điên" trong thơ ông chính là sự thay đổi của tâm trạng khó lường trước được. Nét phong cách đặc sắc ấy đă hội tụ và phát sáng trong cả bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của nhà thơ rất tài hoa và cũng rất đỗi bất hạnh này. "Đây thôn Vĩ Dạ" trích từ tập Thơ Điên của Hàn Mặc Tử.

    Với lời trách cứ nhẹ nhàng dịu ngọt vừa như một lời mời, Hàn Mặc Tử trở về với thôn Vĩ Dạ trong mộng tưởng:

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ
    Nh́n nắng hàng cây nắng mới lên
    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
    Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

    Cảnh vật ở thôn Vĩ Dạ - một làng kề sát thành phố Huế bên bờ Hương Giang với những vườn cây trái, hoa lá sum suê hiện lên thật nên thơ, tươi mát làm sao. Đó là một hàng cau thẳng tắp đang tắm ḿnh dưới ánh “nắng mới lên” trong lành. Chưa hết, rất xa là h́nh ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên” c̣n rất gần lại là “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. “Mướt quá” gợi cả cây nhung non tràn trề sức sống xanh tốt. Màu “mướt quá” làm cho ḷng người như trẻ hơn và vui tươi hơn. Lời thơ khen cây cối xanh tốt nhưng lại nhu huyền ảo, lấp lánh mới thấy hết cẻ đẹp của “vườn ai”. Trong không gian ấy hiện lên khuôn “mặt chữ điền” phúc hậu, hiền lành vừa quen vừa lạ, vừa gần, vừa xa, vừa thực vừa ảo bởi “lá trúc che ngang”. Câu thơ đẹp v́ sự hài ḥa giữa cảnh vật và con người. “Trúc xinh” và “ai xinh” bên nhau làm tôn lên vẻ đẹp của con người. Như vậy tâm trạng của nhân vật trữ t́nh ở đoạn thơ này là niềm vui, vui đến say mê như lạc vào cơi tiên, cơi mộng khi được trở về với cảnh và người thôn Vĩ.

    Thế nhưng cũng cùng không gian là thôn Vĩ Dạ nhưng thời gian có sự biến đổi từ “nắng mới lên” sang chiều tà. Tâm trạng của nhân vật trữ t́nh cũng có sự biến đổi lớn. Trong mắt thi nhân, bầu trời hiện lên “Gió theo lối gió mây đường mây” trong cảnh chia li, uất hận. Biện pháp nhân hóa cho chúng ta thấy điều đó. “Gió theo lối gió” theo không gian riêng của ḿnh và mây cũng thế. Câu thơ tách thành hai vế đối nhau; mở đầu vế thứ nhất là h́nh ảnh “gió”, khép lại cũng bằng gió; mở đầu vế thứ hai là “mây”, kết thúc cũng là “mây”. Từ đó cho ta thấy “mây” và “gió” như những kẻ xa lạ, quay lưng đối với nhau. Đây thực sự là một điều nghịch lí bởi lẽ có gió thổi th́ mây mới bay theo, thế mà lại nói “gió theo lối gió, mây đường mây”. Thế nhưng trong văn chương chấp nhận cách nói phi lí ấy. Tại sao tâm trạng của nhân vật trữ t́nh vốn rất vui sướng khi về với thôn Vĩ Dạ trong buổi ban mai đột nhiên lại thay đổi đột biến và trở nên buồn như vậy?

    Trong mộng tưởng, Hàn Mặc Tử đă trở về với thôn Vĩ nhưng ḷng lại buồn chắc có lẽ bởi mối t́nh đơn phương và những kỉ niệm đẹp với cảnh và người con gái xứ Huế mộng mơ làm nên tâm trạng ấy. Quả thật “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” nên cảnh vật xứ Huế vốn thơ mộng, trữ t́nh lại bị nhà thơ miêu tả vô t́nh, xa lạ đến như vậy. Bầu trời buồn, mặt đất cũng chẳng vui ǵ hơn khi “Ḍng nước buồn thiu hoa bắp lay”.

    Ḍng Hương Giang vốn đẹp, thơ mộng đă bao đời đi vào thơ ca Việt nam thế mà bây giờ lại “buồn thiu” – một nỗi buồn sâm thẳm, không nói nên lời. Mặt nước buồn hay chính là con sóng ḷng "buồn thiu” của thi nhân đang dâng lên không sao giấu nổi. Ḷng sông buồn, băi bờ của nó c̣n sầu hơn. “Hoa bắp lay” gợi tả những hoa bắp xám khô héo, úa tàn đang “lay” rất khẽ trong gió. Cảnh vật trong thơ buồn đến thế là cùng. Thế nhưng đêm xuống, trăng lên, tâm trạng của nhân vật trữ t́nh lại thay đổi:

    “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
    Có chở trăng về kịp tối nay”

    Sông Hương “buồn thiu” lúc chiều dưới ánh trăng đă trở thành “sông trăng” thơ mộng. Cắm xào đậu bên trên con sông đó là “thuyền ai đậu bến”, là bức tranh càng trữ t́nh, lăng mạn. H́nh ảnh “thuyền” và “sông trăng” đẹp, hài ḥa biết bao. Khách đến thôn Vĩ cất tiếng hỏi xa xăm “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Liệu “thuyền ai” đó có chở trăng về kịp nơi bến hẹn, bến đợi hay không? Câu hỏi tu từ vang lên như một nỗi ḷng khắc khoải, chờ đợi, ngóng trông được gặp gương mặt sáng như “trăng’ của người thôn Vĩ trong ḷng thi nhân. Như thế mới biết nỗi ḷng của nhà thơ giành cho cô em gái xứ Huế tha thiết biết nhường nào. T́nh cảm ấy quả thật là t́nh cảm của “Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm nào dễ mấy ai quên” (Thế Lữ).

    Đến đây ta hiểu thêm về ḷng “buồn thiu” của nhân vật trữ t́nh trong buổi chiều. Như vậy diễn biến tâm lí của thi nhân hết sức phức tạp, khó lường trước được. Chất “điên” của một tâm trạng vui với cảnh, buồn với cảnh, trông ngoáng, chờ đợi vẫn được thể hiện ở khổ thơ kết thúc bài thơ này:

    “Mơ khách đường xa khách dường xa
    Áo em trắng quá nh́n không ra
    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
    Ai biết t́nh ai có đậm đà?”

    Vẫn là một tâm trạng vui sướng được đón “khách đường xa” - người thôn Vĩ đến với ḿnh, tâm trạng nhân vật trữ t́nh lại khép lại trong một nỗi đau đớn, hoài nghi “Ai biết t́nh ai có đậm đà?”. “Ai” ở đây vừa chỉ người thôn Vĩ vừa chỉ chính tác giả. Chẳng biết người thôn Vĩ có c̣n nặng t́nh với ḿnh không? Và chẳng biết chính ḿnh c̣n mặn mà với “áo em trắng quá” hay không? Nỗi đau đớn trong t́nh yêu chính là sự hoài nghi, không tin tưởng về nhau. Nhân vật trữ t́nh rơi vào t́nh trạng ấy và đă bộc bạch ḷng ḿnh để mọi người hiểu và thông cảm. Cái mới của thơ ca lăng mạn giai đoạn 1932 - 1945 cũng ở đó.

    Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử để lại trong ḷng người đọc những t́nh cảm sâu lắng . Tác phẩm giúp ta hiểu thêm tâm tư của một nhà thơ sắp phải giă từ cuộc đời. Lời thơ v́ thế trầm buồn, sâu lắng, đầy suy tư. Bạn đọc đương thời yêu thơ của Hàn Mặc Tử bởi thi nhân đă nói hộ họ những t́nh cảm sâu lắng nhất, thầm kín nhất của ḿnh trong thời đại cái “tôi”, cái bản ngă đang tự đấu tranh để khẳng định. T́nh cảm trong thơ Hàn Mặc tử là t́nh cảm thực do đó nó sẽ ở măi trong trái tim bạn đọc. Ấn tượng về một nhà thơ của đất Quảng B́nh đầy nắng và gió sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người Việt Nam.

    ( Sưu tầm )
    Xem thêm bài khác

  2. #2
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gửi
    1.721
    Cảm ơn
    4
    Thanked 102 Times in 78 Posts

    Bài văn 2:
    Cảm nhận về bài thơ "Đây thôn VĨ Dạ" của Hàn Mặc Tử

    Hàn Mặc Tử được xem như là một ngôi sao sáng chói trên bầu trời của phong trào thơ mới với những ḍng cảm xúc sâu lắng. Linh hồn thơ của ông dường như đang tha thiết với cuộc sống trần tục nhưng cũng vừa hướng tới những mảnh đất thần tiên nơi mà mọi chúa trời và tạo hoá đă ban tặng. Trái tim đương yêu thương nồn nàn của Hàn Mc Tử đă kết tinh những vần thơ thành một h́nh ảnh tuyệt mĩ hôn nhiên, trong trẻo đến lạ thường. Bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" là một minh chng cho một t́nh yêu dạt dào nhưng trong trắng, mơ mộng đơn phương vô vọng trong thơ Hàn.
    Thật vậy, m đầu bài thơ là lời trách thầm cũng là lời nhắn nhủ nhẹ nhàng người yêu của nhân vật tr t́nh trong một tâm trạng thẫn th nh mong:
    "Sao anh không về chơi thôn Vĩ
    Nh́n nắng hàng cau nắng mới lên
    Vờn ai mướt quá xanh như ngọc
    Lá trúc che ngang mặt ch điền"
    Nếu như mỗi t́nh yêu đều gắn với một không gian và thời gian cụ thể th́ mối t́nh của nhân vật tr t́nh trong bài thơ này gắn vớiờn tược và con người "thôn Vĩ Dạ" với những kỉ niệm thật khó quên. Có dịp xin mời bạn hăy về thăm thôn VĨ vào một buổi sớm mai, Vĩ Dạ nằm ngay bên b sông Hương êm đềm thơ mộng, chỉ cách trung tâm cố đô Huế không đầy một gi đi tản bộ. T xưa, thôn Vĩ Dạ đă nổi tiếng bởi cây cối xanh tươi, vớinhững biệt th nhỏ nhắn duyên dáng, thấp thớng dưới màu xanh của cây lá. Vĩ Dạ cũng nỗi tiếng như sông Hương, núi Ng, chùa Thiên Mụ của x này. Bởi vậy, ta thấy làm ngạc nhiên khi thấy những nghệ sĩ đều có tên tuổi và những sáng tác của họ cảm nhận t nơi này. Sớm mai, nắng chiếu xuống những giọt sương đọng trên cỏ hay trên những hàng cây long lanh như những viên ngọc. Khách t xa tới đây sẽ thấy và cảm nhận h́nh ảnh hàng cau, đất đai Vĩ Dạ ph́ nhiêu, được con người chăm sóc tươi tốt nên cây cối đều xanh tươi, mơn mởn lá rợp cả một vùng. Nh́n những hàng cau đó trông sạch sẽ như vừa mới được lau chùi, mài giũa như những cành vàng lá ngọc. Câu thơ; "Lá trúc che ngang mặt ch điền" thật là một con người đẹp. Bức tranh đấy hiện lên qua con mắt của người đọc đó là một cảnh chiều tà, một thiếu n đứng trên b con sông Hương êm đềm xuôi mái. Gắn khép lại, vài cành trúc đó cảm giác như thật nhẹ nhàng bâng khuâng. Vâng, khuôn mặt ch điền, đó là một khuôn mt đẹp. Đọc nó ta liên tưởng đến một khuôn mặt vuông vức, rắn chắc của một chàng trai nhưng trong bài thơ, khuôn mặt đó không phải của một người đàn ông mà ngược lại, hoàn toàn là của một cô gái thôn quê, thuỳ mị, nết na duyên dáng. Nó thật hài hoà, gắn bó mật thiết giữa con người vớiờnợc quê hương. Không chỉ vậy, câu thơ c̣n khắc hoạ thành công một nét đáng nh, đáng yêu của thôn Vĩ: Cảnh đẹp đẽ tốt tươi, con người hiền hậu. Tiếp nối mạch cảm xúc của khổ thơ đầu, dường như khổ thơ th hai, tác giả đă dành cho việc tả cảnh sông nước mây trời x Huế và cũng bộc lộ rơ hoài niệm bâng khuâng của tác giả:
    "Gió theo lối gió, mây đường mây
    Ḍng nước buồn thiu, hoa bắp lay
    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
    Có ch trăng về kịp tối nay?"
    Nhịp điệu dịu dàng, khoan thai của x Huế được khắc hoạ rất thành công: Gió mây th́ nhẹ nhàng trôi, ḍng nước sông Hương th́ lững l trôi, hoa ngô chỉ khẽ khàng đung đưa theo làn gió...Khác với khổ thơ một, dườngnhư ở khổ thơ th hai, không gian m ảo và nhạt nhoà hơn. Nó tràn ngập ánh trăng vàng đẹp đẽ. Nhà thơ không chỉ tả bằng mắt mà c̣n cảm nhận bằng nội tâm của ḿnh. Do đó, không thể nh́n nhận ra được đâu là thực, đâu là ảo và dường như càng về cuối th́ tác giả cảm nhận tâm linh đó càng lấn át cái hiễn thực sẵn có. Phải chăng v́ lẽ đó mà tác giả đă hỏi một câu hỏi rất mơ màng:
    "Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
    Có ch trăng về kịp tối nay?"
    ờng như câu thơ tràn ngập s mong ch , niềm hy vọng lẫn nỗi buồn man mác trong nhà thơ. Rơ ràng không có s đặc sắc của bút pháp khắc hoạ được linh hồn của một x sđiểm quan trọng là đă gợi lên cho ngườiđọc một t́nh yêu dịu dàng mà sâu sắc.
    "Mơ khách đường xa khách đừờng xa
    Áo em trắng quá nh́n không ra
    đây sương khói m nhân ảnh
    Ai biết t́nh ai có đậm đà"
    Ai đă và x Huế th́ mới biết được Huế, biết được cái không gian m ảo của nơi này. Huế vẫn mưa nhiều, lắmsương khói, do đó, cảnh vật thật đậm đà và đẹp đẽ hiện ra cho người đọc thấy và chiêm ngưỡng. Sương khói trắng và áo em cũng trắng, em và sương khói dường như đă hoà vào một, lúc mập m khó hiện, lúc lại rơ nét, chính xác là người con gái x Huế. Hàn Mặc Tử vẫn là một nhà thơ lăng mạn đích thực nên tác giả nói bằng tâm tưởng gieo vào ḷng người đọc một thoáng bâng khuâng, người thiếu n Huế tươi đẹp quá, kín đáo quá, ai có biết t́nh yêu của họ bền chặt, hay cũng chỉ như lớp sương khói m ảo của x Huế này thôi. Dường như tác giả cảm thấy hụt hẫng, buồn chán và thất vọng. Để rồi t hỏi ḿnh rằng "Ai biết t́nh ai có đậm đà". "Ai", "t́nh ai"đó có phải là tác giả hay là một người nào khác. Như ta đă biết, mối t́nh của Hàn Mặc Tử với Hoàng Cúc là một mối t́nh rất sâu đậm. Có lẽ khi nh́n vào bức tranh mà Hoàng Cúc tặng, tác giả đă t hỏi ḿnh xem t́nh cảm đó c̣n bền chặt hay không? Người con gái đó có c̣n dành t́nh cảm cho ḿnh nữa không?... Rất nhiều câu hỏi mà tác giả đă t đặt ra cho ḿnh. Nhưng rồi tất cả những câu hỏi đó đều không có câu trả lời và ch́m đắm trong giây phút im lặng, đợi ch và vụt bay niềm hy vọng. Có thể nói thơ Hàn Mặc Tử luôn để lại một chút ǵ đó trong tâm trí của người đọc t́nh cảm rất sâu đậm mặn mà của những mối t́nh đơn phương. Một con người yêu chỉ trong s nhung nh, không dám ngỏ lời, Hàn Mặc Tử là vậy, cũng luôn là tâm điểm cho những bài thơ t́nh và "Đây thôn Vĩ Dạ" cũng vậy, nó chất chứa bao nỗi niềm, bao s gửi gắm. Đọc bài thơ ta ng như đó là một mối t́nh trong mộng tưởng. Cảnh rất đẹp, rất hữu t́nh, âm điệu thiết tha, t́nh t. T́nh cũng rất đẹp, nhưng thực ra đó cũng chỉ là mộng ảo mà thôi. Nó quá xa vời mênh mông. Áo trắng giai nhân- màu trắng t́nh t ấy đă tr thành hoài niệm trong niềm thương nh của thi sĩ đa t́nh mà nhiều bất hạnh. Tóm lai, "Đây thôn Vĩ Dạ" là một bài thơđể ta nh và ta thương.
    "Đây thôn Vĩ Dạ" in trong tập "Thơ điên"(1939), tác phẩm được xem là một cung đàn êm ái trong bản nhạcđời đầy mất mát phiền muộn của Hàn Mặc Tử . Tác phẩm ghi nhận dấu ấn thiên tài của nhà thơ trên chất liệu ngôn t, nỗi buồn nhân thế, nỗi niềm của một thi nhân đa sầu, đa cảm sẽ ám ảnh măi trong tâm trí người đọc, không chỉ một thời mà là măi măi.


  3. #3
    Tham gia ngày
    May 2012
    Bài gửi
    1.721
    Cảm ơn
    4
    Thanked 102 Times in 78 Posts

    Bài văn 3
    Cảm nhận về bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ"


    Cảm nhận thơ trữ t́nh xét cho cùng là cảm nhận "cái t́nh" trong thơ và tâm trạng của nhân vật trữ t́nh trước thiên nhiên, vũ trụ, đất trời. Đến với thơ ca lăng mạn Việt Nam, giai đoạn 1932 -1945 "ta thoát lên trên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường t́nh cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng cùng Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu" (Hoài Thanh - Thi nhân Việt Nam). Đúng thế, bạn đọc đương thời và hôm nay yêu thơ của Hàn Mặc Từ bởi chất "điên cuồng" của nó. Chính "chất điên" ấy đă làm nên phong cách nghệ thuật độc đáo, riêng biệt, mới mẻ của Hàn Mặc Tử. "Chất điên" trong thơ ông chính là sự thay đổi của tâm trạng khó lường trước được. Nét phong cách đặc sắc ấy đă hội tụ và phát sáng trong cả bài thơ "Đây thôn Vĩ Dạ" của nhà thơ rất tài hoa và cũng rất đỗi bất hạnh này. "Đây thôn Vĩ Dạ" trích từ tập Thơ Điên của Hàn Mặc Tử.

    Với lời trách cứ nhẹ nhàng dịu ngọt vừa như một lời mời, Hàn Mặc Tử trở về với thôn Vĩ Dạ trong mộng tưởng:

    “Sao anh không về chơi thôn Vĩ
    Nh́n nắng hàng cây nắng mới lên
    Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
    Lá trúc che ngang mặt chữ điền”

    Cảnh vật ở thôn Vĩ Dạ - một làng kề sát thành phố Huế bên bờ Hương Giang với những vườn cây trái, hoa lá sum suê hiện lên thật nên thơ, tươi mát làm sao. Đó là một hàng cau thẳng tắp đang tắm ḿnh dưới ánh “nắng mới lên” trong lành. Chưa hết, rất xa là h́nh ảnh “nắng hàng cau nắng mới lên” c̣n rất gần lại là “vườn ai mướt quá xanh như ngọc”. “Mướt quá” gợi cả cây nhung non tràn trề sức sống xanh tốt. Màu “mướt quá” làm cho ḷng người như trẻ hơn và vui tươi hơn. Lời thơ khen cây cối xanh tốt nhưng lại nhu huyền ảo, lấp lánh mới thấy hết cẻ đẹp của “vườn ai”. Trong không gian ấy hiện lên khuôn “mặt chữ điền” phúc hậu, hiền lành vừa quen vừa lạ, vừa gần, vừa xa, vừa thực vừa ảo bởi “lá trúc che ngang”. Câu thơ đẹp v́ sự hài ḥa giữa cảnh vật và con người. “Trúc xinh” và “ai xinh” bên nhau làm tôn lên vẻ đẹp của con người. Như vậy tâm trạng của nhân vật trữ t́nh ở đoạn thơ này là niềm vui, vui đến say mê như lạc vào cơi tiên, cơi mộng khi được trở về với cảnh và người thôn Vĩ.

    Khổ thơ thứ hai đột ngột chuyển sắc thái của cảnh:

    "Gió theo lối gió mây đường mây
    Ḍng nước buồn thiu hoa bắp lay
    Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
    Có chở trăng về kịp tối nay?"

    Cũng cùng không gian là thôn Vĩ Dạ nhưng thời gian có sự biến đổi từ “nắng mới lên” sang chiều tà. Tâm trạng của nhân vật trữ t́nh cũng có sự biến đổi lớn. Trong mắt thi nhân, bầu trời hiện lên “Gió theo lối gió mây đường mây” trong cảnh chia li, uất hận. Biện pháp nhân hóa cho chúng ta thấy điều đó. “Gió theo lối gió” theo không gian riêng của ḿnh và mây cũng thế. Câu thơ tách thành hai vế đối nhau; mở đầu vế thứ nhất là h́nh ảnh “gió”, khép lại cũng bằng gió; mở đầu vế thứ hai là “mây”, kết thúc cũng là “mây”. Từ đó cho ta thấy “mây” và “gió” như những kẻ xa lạ, quay lưng đối với nhau. Đây thực sự là một điều nghịch lí bởi lẽ có gió thổi th́ mây mới bay theo, thế mà lại nói “gió theo lối gió, mây đường mây”. Thế nhưng trong văn chương chấp nhận cách nói phi lí ấy. Tại sao tâm trạng của nhân vật trữ t́nh vốn rất vui sướng khi về với thôn Vĩ Dạ trong buổi ban mai đột nhiên lại thay đổi đột biến và trở nên buồn như vậy?. Trong mộng tưởng, Hàn Mặc Tử đă trở về với thôn Vĩ nhưng ḷng lại buồn chắc có lẽ bởi mối t́nh đơn phương và những kỉ niệm đẹp với cảnh và người con gái xứ Huế mộng mơ làm nên tâm trạng ấy. Quả thật “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” nên cảnh vật xứ Huế vốn thơ mộng, trữ t́nh lại bị nhà thơ miêu tả vô t́nh, xa lạ đến như vậy. Bầu trời buồn, mặt đất cũng chẳng vui ǵ hơn khi “Ḍng nước buồn thiu hoa bắp lay”.

    Ḍng Hương Giang vốn đẹp, thơ mộng đă bao đời đi vào thơ ca Việt nam thế mà bây giờ lại “buồn thiu” – một nỗi buồn sâm thẳm, không nói nên lời. Mặt nước buồn hay chính là con sóng ḷng "buồn thiu” của thi nhân đang dâng lên không sao giấu nổi. Ḷng sông buồn, băi bờ của nó c̣n sầu hơn. “Hoa bắp lay” gợi tả những hoa bắp xám khô héo, úa tàn đang “lay” rất khẽ trong gió. Cảnh vật trong thơ buồn đến thế là cùng. Thế nhưng đêm xuống, trăng lên, tâm trạng của nhân vật trữ t́nh lại thay đổi:

    “Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
    Có chở trăng về kịp tối nay”

    Sông Hương “buồn thiu” lúc chiều dưới ánh trăng đă trở thành “sông trăng” thơ mộng. Cắm xào đậu bên trên con sông đó là “thuyền ai đậu bến”, là bức tranh càng trữ t́nh, lăng mạn. H́nh ảnh “thuyền” và “sông trăng” đẹp, hài ḥa biết bao. Khách đến thôn Vĩ cất tiếng hỏi xa xăm “Có chở trăng về kịp tối nay?”. Liệu “thuyền ai” đó có chở trăng về kịp nơi bến hẹn, bến đợi hay không? Câu hỏi tu từ vang lên như một nỗi ḷng khắc khoải, chờ đợi, ngóng trông được gặp gương mặt sáng như “trăng’ của người thôn Vĩ trong ḷng thi nhân. Như thế mới biết nỗi ḷng của nhà thơ giành cho cô em gái xứ Huế tha thiết biết nhường nào. T́nh cảm ấy quả thật là t́nh cảm của “Cái thưở ban đầu lưu luyến ấy. Ngàn năm nào dễ mấy ai quên” (Thế Lữ).
    Đến đây ta hiểu thêm về ḷng “buồn thiu” của nhân vật trữ t́nh trong buổi chiều. Như vậy diễn biến tâm lí của thi nhân hết sức phức tạp, khó lường trước được. Chất “điên” của một tâm trạng vui với cảnh, buồn với cảnh, trông ngoáng, chờ đợi vẫn được thể hiện ở khổ thơ kết thúc bài thơ này:

    “Mơ khách đường xa khách dường xa
    Áo em trắng quá nh́n không ra
    Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
    Ai biết t́nh ai có đậm đà?”

    Vẫn là một tâm trạng vui sướng được đón “khách đường xa” - người thôn Vĩ đến với ḿnh, tâm trạng nhân vật trữ t́nh lại khép lại trong một nỗi đau đớn, hoài nghi “Ai biết t́nh ai có đậm đà?”. “Ai” ở đây vừa chỉ người thôn Vĩ vừa chỉ chính tác giả. Chẳng biết người thôn Vĩ có c̣n nặng t́nh với ḿnh không? Và chẳng biết chính ḿnh c̣n mặn mà với “áo em trắng quá” hay không? Nỗi đau đớn trong t́nh yêu chính là sự hoài nghi, không tin tưởng về nhau. Nhân vật trữ t́nh rơi vào t́nh trạng ấy và đă bộc bạch ḷng ḿnh để mọi người hiểu và thông cảm. Cái mới của thơ ca lăng mạn giai đoạn 1932 - 1945 cũng ở đó.


    Bài thơ “Đây thôn Vĩ Dạ” của Hàn Mặc Tử để lại trong ḷng người đọc những t́nh cảm đẹp. Bài thơ giúp ta hiểu thêm tâm tư của một nhà thơ sắp phải giă từ cuộc đời. Lời thơ v́ thế trầm buồn, sâu lắng, đầy suy tư. Bạn đọc đương thời yêu thơ của Hàn Mặc Tử bởi thi nhân đă nói hộ họ những t́nh cảm sâu lắng nhất, thầm kín nhất của ḿnh trong thời đại cái “tôi”, cái bản ngă đang tự đấu tranh để khẳng định. T́nh cảm trong thơ Hàn Mặc tử là t́nh cảm thực do đó nó sẽ ở măi trong trái tim bạn đọc. Ấn tượng về một nhà thơ của đất Quảng B́nh đầy nắng và gió sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm trí người Việt Nam.

    ( Sưu tầm)

Từ khóa cho bài viết này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của ḿnh
  •