1. Đăng nhập
  2. Đăng kư
Hiện kết quả từ 1 tới 4 của 4
  1. #1
    Tham gia ngày
    Jun 2012
    Bài gửi
    70
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 1 lần trong 1 bài viết

    Phân tích bài thơ "Vội vàng" của Xuân Diệu

    ►Xem: 7649 ►Trả Lời: 3
    ►Chia Sẽ:
    28-06-2012

    Bài 1( Xem thêm 2 bài khác bên dưới nhé )

    PHÂN TÍCH BÀI THƠ VỘI VÀNG CỦA XUÂN DIỆU


    Ngay từ buổi đầu bước chân vào làng thơ, Xuân Diệu dường như đă tự chọn cho ḿnh một lẽ sống: sống để yêu và tôn thờ T́nh yêu! Phụng sự bằng trái tim yêu nồng cháy, bằng cuộc sống say mê và bằng việc "hăm hở" làm thơ t́nh! Nhắc đến Xuân Diệu, sẽ thật là thiếu sót nếu không kể tên "Vội vàng", "Đây mùa thu tới", và "Thơ duyên" trong tuyển tập "Thơ thơ" - đứa con đầu ḷng mà "ông hoàng thơ t́nh" đă ban tặng cho nhân gian. Như một cái chạm tay khẽ nhẹ vào tâm hồn những người yêu thơ, thơ Xuân Diệu nhẹ nhàng và tinh tế như chính tác giả của nó, để lại trong tâm hồn người đọc một ấn tượng đậm nết và thật khó phôi pha về sự phóng túng, giàu có mà hết sức tinh tế trong đời sống nội tâm, tâm của hồn của cái "TÔI" trữ t́nh Xuân Diệu. Thơ Xuân Diệu như một khúc t́nh si say đắm ngọt ngào...thật đến từng hơi thở!



    Những vẻ đẹp của mùa xuân đâu chỉ của riêng Xuân Diệu. Từ ngh́n năm tước, các bậc tiền bối đă có những vần thơ tràn trề về t́nh yêu đói với mùa xuân và cuộc sống. Nhưng yêu đến mức có những ham muốn táo bạo và khác thường như Xuân Diệu, đó là điều thật mới mẻ, thật mănh liệt. Đặc biệt là cái cách nói của nhà thơ. Trong thơ ca trung đại, nét nổi bật là tính phi ngă, cái tôi trữ t́nh thường ẩn náu sau những h́nh tượng thiên nhiên. Trong khi đó, Xuân Diệu bộc lộ ư thức về cái tôi trữ t́nh thật táo bạo:

    "Tôi muốn tắt nắng đi
    Cho màu đừng nhạt mất,
    Tôi muốn buộc gió lại
    Cho hương đừng bay đi."

    Nói Xuân Diệu là một nhà thơ mới, quả không sai! Nếu như trong thơ ca của những thi sĩ lăng mạn ngày xưa, thiên đường là chốn bồng lai tiên cảnh, là nơi mây gió trăng hoa, th́ trong quan niệm thơ của Xuân Diệu, cuộc sống trần gian mới thực là nơi hạnh phúc nhất, là nơi xinh đẹp và căng mọng nhựa sống nhất! Thơ lăng mạn của ông luôn có một niềm say mê ngoại giới, khác giới, một niềm khát khao giao cảm với đời, một ḷng ham sống mănh liệt đến tràn đầy. Dường như ḷng yêu đời, yêu cuộc sống của ông đă biến cái ham muốn "tắt nắng", "buộc gió" trở nên quá táo bạo, đến độ lo âu trước sự thay đổi của đất trời, cảnh vật...muốn ôm tất cả, muốn giữ lại tất cả thiên nhiên với vẻ đẹp vốn có của nó. Ước muốn níu giữ thời gian, chặn ṿng quay của vũ trụ,đảo ngược quy luật tự nhiên, phải chăng là ông đang muốn đoạt quyền tạo hóa. Nhưng trong cái phi lí đó, vẫn có sự đáng yêu của một tâm hồn lăng mạn yêu cuộc sống. Với ông, sống là cả một hạnh phúc lớn lao, kỳ diệu, sống là để tận hưởng và tận hiến. Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận như một thiên đường trên mặt đất, một bữa tiệc lớn của trần gian. Nhà thơ đă cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân t́nh. Cái thiên đường sắc hương đó hiện ra trong "Vột vàng" vừa như một mảnh vườn t́nh ái, vạn vật đương lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người t́nh đầy khêu gợi.
    Có ai đó đă nói rằng: “Xuân Diệu say đắm với t́nh yêu và hăng hái với mùa xuân, thả ḿnh bơi trong ánh nắng, rung động với bướm chim, chất đầy trong tim mây trời thanh sắc”:

    "Của ong bướm này đây tuần tháng mật;
    Này đây hoa của đồng nội xanh ŕ;
    Này đây lá của cành tơ phơ phất;
    Của yến anh này đây khúc t́nh si."

    Đó là niềm vui sướng của trái tim thi sĩ trẻ lần đầu tiên phát hiện ra 1 thiên dường trên mặt đất.Nếu thơ xưa, các nhà thơ chỉ sử dung thính giác và thị giác để cảm nhận vẻ đẹp của ngoại giới th́ các thi sĩ thời Thơ mới lại huy động tất cả các giác quan từ nhiều góc độ để cảm nhân vẻ đẹp và sự quyến rũ đắm say hồn người của cảnh vật và đất trời lúc xuân sang. Trong đoạn thơ, điệp ngữ "này đây" được sử dụng 5 lần kết hợp với lối kiệt kê khiến nhịp thơ trở nên dồn dập, là một sự chỉ trỏ ngơ ngác, ngạc nhiên, lạ lẫm, như một tiếng reo vui sướng tột cùng để rồi ch́m ngập đắm say trước trùng trùng điệp: Của ong bướm tuần tháng “mật” ngọt ngào, nào là hoa của đồng nội xanh “ŕ”, nào là lá của cành tơ “phơ phất”, của yến anh là khúc t́nh “si”; thể hiện sự phong phú bất tận của thiên nhiên. Tất cả mọi giác quan của thi sĩ như rung lên, căng ra mà đón nhận tất cả, cảm nhận tất cả. Sự sống ngồn ngột đang phơi bày, thiên nhiên hữu t́nh xinh đẹp thật đáng yêu như một sự gợi mở hấp dẫn đến lạ ḱ, một sự mời mọc mà thiên nhiên là những "món ăn" có sẵn. Những vẻ đẹp được liệt kê bằng những tính từ đậm nhạt khác nhau để thể hiện tài năng sử dụng từ ngữ của Xuân Diệu - cảnh vật trong thơ ông đă trở nên cuộn trào sắc màu, cuộn trào sức sống. Sự vật b́nh thường ở ngoài đời cũng được đặt cho một dáng vẻ rất kiêu, rất hănh diện, được trực tiếp nhận ánh sáng rực rỡ của ḷng yêu cuộc sống từ hồn thơ Xuân Diệu đă trở nên lung linh, đẹp đẽ, là biểu tượng của mùa xuân và tuổi trẻ ở giữa cuộc đời! Thi pháp hiện đại đă chắp cánh cho những cảm giác mới mẻ của Xuân Diệu, giúp nhà thơ diễn tả trạng thái hồn nhiên, bồng bột trước cái sắc xuân trong cảnh vật, trong đất trời và của muôn loài. Cách ngắt nhịp trong đoạn thơ đầy linh hoạt, biến hoá (3/2/3 và 3/5). Đặc biệt là những h́nh ảnh, những khung cảnh được miêu tả thật cụ thể, in đậm phong cách XD: tuần tháng mật, đồng nội xanh ŕ ... tất cả tràn trề sự sống và thật đắm say!

    Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
    Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gơ cửa
    Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
    Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
    Tôi không chờ nắng hạ mới ḥai xuân."

    Chưa bao giờ trong thơ Việt Nam h́nh ảnh mặt trời - vầng thái dương lại hiện ra dịu dàng, t́nh tứ và lăng mạn đến thế. Với Xuân Diệu, mỗi ngày được sống, được nh́n thấy mặt trời, được tận hưởng sắc hương của vạn vật là một ngày vui. H́nh ảnh "thần vui hằng gơ cửa" gợi những liên tưởng gần gũi với h́nh tượng mặt trời trong thần thoại hy lạp xưa. Niềm vui sướng trong tâm hồn nhà thơ dâng tràn khiến ng̣i bút của Xuân Diệu thật sự xuất thần và thi sĩ đă sáng tạo nên 1 câu thơ tuyệt bút:"Tháng giêng ngon như một cặp môi gần". Một chữ “ngon” chuyển đổi cảm giác thần t́nh, một cách so sánh vừa lạ vừa táo bạo. Đây là câu thơ hay nhất, mới nhất cho thấy màu sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu. Nhà thơ đem lại một khái niệm vốn trừu tượng thuộc về thời gian "tháng giêng" so sánh với một h́nh ảnh vốn cụ thể, mang tính nhục cảm. Nhưng sao câu thơ Xuân Diệu vẫn tinh khôi, vẹn nguyên, trong sáng, lại gần gũi và trẻ trung đến thế. Cái mới trong thơ t́nh Xuân Diệu là thế! Đó là sư kết hợp hài hoà giữa tâm hồn và thể xác khiến t́nh yêu thăng hoa. Đang ở đỉnh điểm của hạnh phúc, tâm hồn nhà thơ trỗi lên nỗi âu lo trước cái mong manh của xuân sắc sẽ phai tàn, sự đan xen hai luồng cảm xúc trái ngược là điều thường gặp trong thơ t́nh Xuân Diệu. Nó dẫn nhà thơ đến những suy tư và quan niệm nhân sinh mang tính triết lư. Thi nhân nhận ra cái quy luật khắc nghiệt của ḍng chảy thời gian: "tất cả sẽ qua đi, tất cả sẽ lụi tàn ..." Hai tâm trạng trái ngược nhưng dồn nén trong ḍng thơ "Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa". Về h́nh thức, đây là một cấu trúc độc đáo bởi nó ngắt thành 2 câu chứa đựng 2 tâm trạng, 2 cảm xúc trái ngược nhau: sung sướng-vội vàng. Nhưng điều mà Xuân Diệu muốn diễn tả là "vội vàng một nửa". Thường th́ con người ở tuổi trung niên mới tiếc tuổi xuân. Ở đây Xuân Diệu đang xuân, đang quá đỗi trẻ trung mà đă nuối tiếc, đă vội càng "Tôi không chờ nắng hạ mới ḥai xuân." V́ sao vậy? Bởi với Xuân Diệu:

    "Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua.
    Xuân c̣n non, nghĩa là xuân sẽ già.
    Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất.
    Ḷng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật,
    Không cho dài thời trẻ của nhân gian
    Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần ḥan,
    Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại
    C̣n trời đất, nhưng chẳng c̣n tôi măi,
    Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;
    Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi,
    Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt.
    Con gió xinh th́ thào trong lá biếc,
    Phải chăng hờn v́ nỗi phải bay đi?
    Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi,
    Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?
    Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa.
    Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,"

    Nhưng quan niệm của Xuân Diệu vừa phi lí, vừa hợp lí, vừa quen lại vừa lạ. Quen v́ người xưa đă từng thở dài "xuất th́ bất tái lai". Và là bởi đó là tiếng nói của một cái tôi ham sống, coi mùa xuân, tuổi trẻ và t́nh yêu là tất cả sự sống của ḿnh. Biết rằng mùa xuân của đất trời vẫn tuần hoàn nhưng tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại, thi sĩ bâng khuâng, tiếc nuối ... Mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật h́nh như cũng mang theo nỗi buồn “chia phôi”, hoặc “tiễn biệt”, phải “hờn” v́ xa cách, phải “sợ” v́ “độ phai tàn sắp sửa”. Cũng là “gió”, là “chim”… nhưng gió khẽ “th́ thào” v́ “hờn”, c̣n “chim” th́ bỗng ngừng hót, ngừng reo v́ “sợ”! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật cái nghịch lư giữa mùa xuân – tuổi trẻ và thời gian: "Phải chăng hờn v́ nỗi phải bay đi?" Con người hiện đại sống với quan niệm thời gian tuyến tính, thời gian như một ḍng chảy mà mỗi mộy khoảnh khắc qua là mất đi vĩng viễn... Trái tim Xuân Diệu đa cảm quá và tâm hồn nhà thơ quá đỗi tinh tế trước bước đi của thời gian. Con người ấy lúc nào cũng "chẳng bao giờ nữa..." Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hoá làm nổi bật nỗi ḷng vừa lo lắng băn khoăn vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng:
    Trong đoạn thơ này, cái giọng điệu sôi nổi, bồng bột, đắm say của Xuân Diệu thời "thơ thơ" thể hiện đầy đủ nhất. Những câu thơ chứa đựng cả giọng nói háo hức và nhịp đập của một con tim vồ vập muốn sống hết ḿnh. Con tim ấy của một cái tôi trữ t́nh từng bộc bạch một cách chân thành. "Tôi chỉ là một cây kim bé nhỏ - mà vạn vật là muôn đá nam châm." Từng làn sóng ngôn từ lúc đan chéo nhau, lúc lại song song thành những đợt sóng ào ạt vỗ măi vào tâm hồn người đọc. So với đoạn thơ trên, cách tự xưng của nhân vật trữ t́nh thay đổi. Phần đầu bài thơ, thi sĩ xưng "tôi" - cái tôi đơn lẻ đang đối thoại với đồng loại. Đến đây, thi sĩ xưng ta một cách đầy tự tin nhưng đă có thêm rất nhiều đồng minh cùng đứng lên đối diện với sự sống:"Chẳng bao giờ, ôi! Chẳng bao giờ nữa. -
    Mau đi thôi! Mùa chưa ngả chiều hôm,"


    "Ta muốn ôm.
    Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;
    Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,
    Ta muốn say cánh bướm với t́nh yêu,
    Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
    Và non nước, và cây, và cỏ rạng,
    Cho chuếnh choáng mùi hương, cho đă đầy ánh sáng,
    Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
    Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi!"

    H́nh thức tŕnh bày đoạn thơ rất đặc biệt, thể hiện dụng ư nghệ thuật của tác giả. Ba chữ "Ta muốn ôm" được đặt ở giữa ḍng thơ mô phỏng h́nh ảnh nhân vật trữ t́nh đang dang rộng ṿng tay để ôm tất cả sự sống lúc xuân th́ - sự sống giữa thời tươi vào ḷng. Đó là chân dung của một cái tôi đầy tham lam, ham hố đang dứng giữa trần gian, cuộc đời, ḍng đời để ôm cho hết, riết cho chặt, cho say, cho chếnh choáng, thâu cho đă đầy, cho no nê, cho tới tận cùng những hương sắc của đất trời giữa mùa xuân... Tất thảy đều vồ vập, khát khao đến cháy bỏng với các mong muốn được giao hoà, giao cảm mănh liệt với vạn vật, với cuộc đời. Đây quả là một khát khao vô biên, tuyệt đích, rất tiêu biểu cho cảm xúc thơ Xuân Diệu. Điệp từ, điệp ngữ được sử dụng bới tần số dày đặc trong cả đoạn thơ tiêu biểu cho nhịp điệu dồn dập, đầy bồng bột, đắm say. Chính những câu thơ đó lưu lại trong ta ấn tượng về một ḍng sông cảm xúc cứ dâng trào, ào ạt từ câu mở đầu cho đến câu cuối cùng bài thơ. Chỉ riêng điệp ngữ ta muốn được điệp tới bốn lần, mỗi lần điệp đi điệp lại liền với một động từ diễn tả một trạng trái yêu thương mỗi lúc một nồng nàn, say đắm: ôm, riết, say, thâu. Đó chính là đỉnh điểm của cảm xúc bồng bột, sôi nổi và đắm say khiến nhà thơ phá tung những quan niệm của thi pháp trung đại để biểu lộ tâm hồn ḿnh trong một cách nói tưởng như vô nghĩa mà hoá ra rất sáng tạo "Và non nước, và cây, và cỏ rạng." Một trạng thái tham lam, ham hố kô có điểm tận cùng trong tâm hồn nhà thơ. Tṛn cảm nhận của thi nhân, cuộc đời trần thế như bày ra cả một bàn tiệc với tất cả h́nh ảnh của cuộc sống tươi non, đầy hương sắc. Nhà thơ diễn tả thiên nhiên bằng các mĩ từ, lại nhân hoá khiến nó hiện ra như con người có h́nh hài và mang dang dấp của tuổi xuân. Câu cuối cùng kết thúc cả bài thơ:" Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi." Đây là lời gọi thiết tha với sự cuồng nhiệt cao độ của 1 trái tim khao khát t́nh yêu và cuộc sống. Trong hồn thơ Xuân Diệu, mùa xuân - tuổi xuân ngon lành và quyến rũ như một trái chín ửng hồng, như mời mọc. Trong câu thơ này, h́nh ảnh xuân hồng với từ "cắn" khiến câu thơ thật gợi cảm xen chút giật ḿnh trước tứ thơ thật độc đáo, diễn tả niềm khao khát giao cảm mănh liệt, sự ham hố cuồng nhiệt của Xuân Diệu măi măi là khát vọng, là ham muốn không có giới hạn.

    Với bài thơ "Vội vàng", Xuân Diệu đă phả vào nền thi ca Việt Nam một trào lưu "Thơ mới". Mới lạ nhưng táo bạo, độc dáo ở giọng điệu và cách dùng từ, ngắt nhịp, nhất là cách cảm nhận cuọc sống bằng tất cả các giác quan, với một trái tim chan chứa t́nh yêu. "Vội vàng" đă thể hiện một cảm quan nghệ thuật rất đẹp, mang ư nghĩa nhân văn sâu sắc. Đó là ḷng yêu con người, yêu cuộc đời. Đó là t́nh yêu cảnh vật, yêu mùa xuân và tuổi trẻ... Và là ham muốn mănh liệt muốn nĩu giữ thời gian, muốn tận hưởng vị ngọt ngào của cảnh sắc đất trời "tươi non mơn mởn". Phải chăng trời đất sinh ra thi sĩ Xuân Diệu trên xứ sở hữu t́nh này, là để ca hát về t́nh yêu, để nhảy múa trong những điệu nhạc t́nh si?! Thơ Xuân Diệu - vội vă với nhịp đập của thời gian.

    Xem thêm bài khác

  2. #2
    Tham gia ngày
    Jun 2012
    Bài gửi
    70
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 1 lần trong 1 bài viết

    Bài 2
    PHÂN TÍCH BÀI THƠ "VỘI VÀNG" (XUÂN DIỆU)

    PHÂN TÍCH BÀI THƠ VỘI VÀNG


    1/
    Yêu cầu chung:

    -Mở bài: nêu những nét khái quát về tác giả, tác phẩm, nêu chủ đề ḿnh muốn nói (vội vàng" là lời giục giă hăy sống mănh liệt, sống hết ḿnh, hăy quư trọng từng giây, từng phút của cuộc đời ḿnh, nhất là những tháng năm của tuổi trẻ, của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt"

    -Thân bài: phân tích bài thơ Vội vàng (đồng thời phải diễn giải, dẫn chứng cho chủ đề là lời giục giă hăy sống mănh liệt, sống hết ḿnh, hăy quư trọng từng giây, từng phút của cuộc đời ḿnh, nhất là những tháng năm của tuổi trẻ, của một hồn thơ yêu đời, ham sống đến cuồng nhiệt...

    -Kết bài: Kết luận bài thơ và đồng cảm với nhà thơ về quan niệm sống, tuổi trẻ...

    2/ Bài văn tham khảo


    Nhà thơ Thế Lữ, trong lời Tựa cho tập Thơ Thơ của
    Xuân Diệu, đă có nhận xét khá tinh tế: “Xuân Diệu là một người của đời, một người ở giữa loài người. Lầu thơ của ông xây dựng trên đất của một tấm ḷng trần gian” . Đă hơn hai mươi năm Xuân Diệu giă từ chúng ta vào cơi hư vô, nhưng “tấm ḷng trần gian” của ông dường như vẫn c̣n ở lại. Cứ mỗi lần xuân tới, những trái tim non trẻ của các thế hệ học sinh lại rung lên những cảm xúc mănh liệt trước tâm t́nh của Xuân Diệu gửi gắm với đời trong bài thơ Vội vàng, gắn với niềm khát khao giao cảm với đất trời, con người tràn mê đắm của thi nhân, trong mùa xuân diệu ḱ!Làm thơ xuân vốn là một truyền thống của thi ca Việt Nam, bao nét xuân đi vào thi ca đều mang một dấu ấn cảm xúc riêng. Đặc biệt, trong thơ lăng mạn Việt Nam 1932 – 1945, mùa xuân c̣n gắn với cái tôi cá nhân cá thể giàu cảm xúc của các nhà thơ mới. Có thể kể đến một Hàn Mặc Tử với “khách xa gặp lúc mùa xuân chín…”, một Nguyễn Bính với “mùaxuân là cả một mùa xanh…”. Nhưng có lẽ Xuân Diệu chính là người đă đem vào trong cảm xúc mùa xuân tất cả cái rạo rực đắm say của t́nh yêu. Vội vàng là lời tâm t́nh với mùa xuân của trái tim thơ tuổi hai mươi căng nhựa sống.

    Cái động thái bộc lộ đầy đủ nhất thần thái của
    Xuân Diệu có lẽ là vội vàng. Ngay từ hồi viết Thi nhân Việt Nam, Hoài Thanh đă thấy “Xuân Diệu say đắm t́nh yêu, say đắm cảnh trời, sống vội vàng, sống cuốn quưt”. Cho nên, đặt cho bài thơ rất đặc trưng của ḿnh cái tên Vội vàng, hẳn đó phải là một cách tự bạch, tự họa của Xuân Diệu. Nó cho thấy thi sĩ rất hiểu ḿnh. Thực ra, cái điệu sống vội vàng, cuống quưt của Xuân Diệu bắt nguồn sâu xa từ ư thức về thời gian, về sự ngắn ngủi của kiếp người, về cái chết như là một kết cục không tránh khỏi mai hậu. Sống là cả một hạnh phúc lớn lao diệu kỳ. Mà sống là phải tận hiến và tận hưởng! Đời người là ngắn ngủi, cần tranh thủ sống. Sống hết ḿnh, sống đă đầy. Thế nên phải chớp lấy từng khoảnh khắc, phải chạy đua với thời gian. Ư thức ấy luôn giục giă, gấp gáp. Bài thơ này được viết ra từ cảm niệm triết học ấy.Thông thường, yếu tố chính luận đi cùng thơ rất khó nhuần nhuyễn. Nhất là lối thơ nghiêng về cảm xúc rất “ngại” đi cùng chính luận. Ấy thế nhưng nhu cầu phô bày tư tưởng, nhu cầu lập thuyết lại không thể không dùng đến chính luận. Thơ Xuân Diệu hiển nhiên là loại thơ xúc cảm. Nhưng đọc kỹ sẽ thấy rằng thơ Xuân Diệu cũng rất giàu chính luận. Nếu như cảm xúc làm nên cái nội dung h́nh ảnh, h́nh tượng sống động như mây trôi, nước chảy trên bề mặt của văn bản thơ, th́ dường như yếu tố chính luận lại ẩn ḿnh, lặn xuống bề sâu, làm nên cái tứ của thi phẩm. Cho nên mạch thơ luôn có được vẻ tự nhiên, nhuần nhị. Vội vàng cũng thế. Nó là một ḍng cảm xúc dào dạt, bồng bột cuốn theo bao h́nh ảnh thi ca như gấm như thêu của cảnh sắc trần gian.

    Nhưng nó cũng là một bản tuyên ngôn bằng thơ, tŕnh bày cả một quan niệm nhân sinh về lẽ sống vội vàng. Có lẽ không phải thơ đang minh họa cho triết học. Mà đó chính là minh triết của một hồn thơ. Mục đích lập thuyết, dạng thức tuyên ngôn đă quyết định đến bố cục của Vội vàng. Thi phẩm khá dài nhưng tự nó h́nh thành hai phần khá rơ rệt. Cái cột mốc ranh giới giữa hai phần đặt vào ba chữ “Ta muốn ôm”. Phần trên nghiêng về luận giải cái lí do v́ sao cần sống vội vàng. Phần dưới là bộc lộ cái hành động vội vàng ấy. Nói một cách vui vẻ: trên là lư thuyết, dưới là thực hành!


    Điều rất dễ thấy là thi sĩ chọn cách xưng hô cho từng phần. Ở trên, xưng “tôi”, lập thuyết đối thoại với đồng loại. Ở dưới, xưng “ta”, đối diện với sự sống. Phần luận lí có xu hướng cắt xẻ bài thơ. Nhưng hơi thơ bồng bột, giọng thơ dào dạt, sôi nổi đă xóa mọi cách ngăn, khiến thi phẩm vẫn luôn là một chỉnh thể sống động, tươi tắn và truyền cảm. Mở đầu bài thơ là một khổ ngũ ngôn thể hiện một ước muốn ḱ lạ của thi sĩ. Ấy là cái ước muốn quay ngược quy luật tự nhiên – một ước muốn không thể:


    Tôi muốn tắt nắng đi

    Cho màu đừng nhạt mất;
    Tôi muốn buộc gió lại
    Cho hương đừng bay đi

    Muốn “tắt nắng”, muốn “buộc gió”, thật là những ham muốn kỳ dị, chỉ có ở thi sĩ. Nhưng làm sao cưỡng được quy luật, làm sao có thể vĩnh viễn hóa được những thứ vốn ngắn ngủi mong manh ấy? Cái ham muốn lạ lùng kia đă hé mở cho chúng ta một ḷng yêu bồng bột vô bờ đối với cái thế giới thắm sắc đượm hương này. Thế giới này được Xuân Diệu cảm nhận theo một cách riêng. Nó bày ra như một thiên đường trên mặt đất, như một bữa tiệc lớn của trần gian. Được cảm nhận bằng cả sự tinh vi nhất của một hồn yêu đầy ham muốn, nên sự sống cũng hiện ra như một thế giới đầy xuân t́nh. Cái thiên đường sắc hương đó hiện ra trong Vội vàng vừa như một mảnh vườn t́nh ái, vạn vật đương lúc lên hương, vừa như một mâm tiệc với một thực đơn quyến rũ, lại vừa như một người t́nh đầy đắm say. Xuân Diệu cũng hưởng thụ theo một cách riêng. Ấy là hưởng thụ thiên nhiên như hưởng thụ ái t́nh. Yêu thiên nhiên mà thực chất là t́nh tự với thiên nhiên. Hăy xem cách diễn tả vồ vập về thiên nhiên ở th́ xuân sắc, một thiên nhiên rạo rực xuân t́nh:


    Của ong bướm này đây tuần tháng mật

    Này đây hoa của đồng nội xanh ŕ,
    Này đây lá của cành tơ phơ phất Của yến anh này đây khúc t́nh si
    Và này đây ánh sáng chớp hàng mi
    Mỗi sáng sớm thần Vui hằng gơ cửa;
    Tháng giêng ngon như một cặp môi gần;

    Có lẽ trước
    Xuân Diệu trong thơ Việt Nam chưa có cảm giác “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”. Nó là cảm giác của ái ân t́nh tự. Cảm giác ấy đă làm cho người ta thấy tháng giêng mơn mởn non tơ đầy một sức sống thanh tân kia mà sao quyến rũ – tháng giêng mang trong nó sức quyến rũ không thể cưỡng được của một người t́nh rạo rực, đắm say. Hai mảng thơ đầu kế tiếp nhau đă được liên kết bằng cái logic luận lí ngầm của nó. Thi sĩ muốn “tắt nắng”, “buộc gió” chính v́ muốn giữ măi hương sắc cho trần thế này đây. Hương sắc là cái sinh khí của nó, là cái vẻ đẹp, cái nhan sắc của nó. Tất cả chỉ rực rỡ trong độ xuân th́. Mà xuân lại vô cùng ngắn ngủi. Và thế là mảng thơ thứ ba của phần luận giải đă h́nh thành để nói về cái ngắn ngủi đến tàn nhẫn của xuân th́ đối với sự sống và cái xuân th́ của con người. Phải, cái thế giới này lộng lẫy nhất, “ngon” nhất là ở độ xuân; c̣n con người cũng chỉ hưởng thụ được cái “ngon” kia khi c̣n trẻ thôi. Mà cả hai đều vô cùng ngắn ngủi, thời gian sẽ cướp đi hết thảy. Có lẽ cũng lần đầu tiên, thơ ca Việt Nam có được cái quan niệm này:

    Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua,

    Xuân c̣n no nghĩa là xuân sẽ già.

    Con người thời trung đại h́nh như yên trí với quan niệm thời gian tuần hoàn với cái chu kỳ bốn mùa, cũng như cái chu ḱ ba vạn sáu ngàn ngày của kiếp người. Con người hiện đại sống với quan niệm thời gian tuyến tính, thời gian như một ḍng chảy mà mỗi một khoảnh khắc qua là mất đi vĩnh viễn. Cho nên
    Xuân Diệu đă nồng nhiệt phủ định:

    Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn,

    Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại !

    Thước đo thời gian của thi sĩ là tuổi trẻ. Tuổi trẻ một đi không trở lại th́ làm chi có sự tuần hoàn ! Trong cái mênh mông của đất trời, cái vô tận của thời gian, sự có mặt của con người thật là ngắn ngủi, hữu hạn. Nghĩ về tính hạn chế của kiếp người, Xuân Diệu đă đem đến một nỗi ngậm ngùi thật mới mẻ:


    C̣n trời đất, nhưng chẳng c̣n tôi măi,

    Nên bâng khuâng tôi tiếc cả đất trời;

    Và đem đến một cảm nhận đầy tính lạ hóa về thời gian và không gian:


    Mùi tháng năm đền rớm vị chia phôi

    Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt…

    Là người đă tiếp thu ở mức nhuần nhuyễn phép “tương giao” của lối thơ tượng trưng, Xuân Diệu đă phát huy triệt để sự tương giao về cảm giác để cảm nhận và mô tả thế giới. Thời gian được cảm nhận bằng khứu giác: “Mùi tháng năm” – thời gian của Xuân Diệu được làm bằng hương – chẳng thế mà thi sĩ cứ muốn buộc gió lại ư? Một chữ “rớm” cho thấy khứu giác đă chuyển thành thị giác.


    Nó nhắc ta nhớ đến h́nh ảnh giọt lệ. Chữ “vị” liền đó, lại cho thấy cảm giác thơ đă chuyển qua vị giác. Và đây là một vị hoàn toàn phi vật chất: “vị chia phôi” ! Th́ ra chữ “rớm” và chữ “vị” này đều từ một h́nh ảnh ẩn hiện là giọt lệ chia phôi đó. V́ sao thời gian lại mang cái hương vị - h́nh thể của chia phôi? Ấy là những cảm giác chân thực hay chỉ là tṛ diễn của ngôn ngữ theo kịch bản của phép “tương giao”? Cái tinh tế của Xuân Diệu chính là ở đấy ! Thi sĩ cảm thấy thật hiển hiện mỗi khoảnh khắc đang ĺa bỏ hiện tại để trở thành quá khứ thật sự là một cuộc ra đi vĩnh viễn.


    Trên mỗi thời khắc đều đang diễn ra một cuộc chia tay của thời gian với con người, với không gian và với cả chính thời gian. Cho nên thi sĩ nghe thấy một lời than luôn âm vang khắp núi sông này, một lời than vĩnh viễn: than thầm tiễn biệt. Không gian đang tiễn biệt thời gian ! Và thời gian trôi đi sẽ khiến cho cái nhan sắc thiên nhiên diệu kỳ này bước vào độ tàn phai. Một sự tàn phai không thể nào tránh khỏi !Thế đấy, không thể buộc gió, không thể tắt nắng, cũng không thể cầm giữ được thời gian, th́ chỉ có cách thực tế nhất là chạy đua với thời gian, là phải tranh thủ sống: Chẳng bao giờ, ôi ! Chẳng bao giờ nữa…


    Mau đi thôi ! Mùa chưa ngả chiều hôm Đến đây phần luận giải của tuyên ngôn vội vàng đă đủ đầy luận lư !] Bài thơ được kết thúc bằng những cảm xúc mănh liệt, bằng những tham muốn mỗi lúc một cuồng nhiệt , vồ vập. Đó là cả một cuộc t́nh tự với thiên nhiên, ái ân cùng sự sống. Chỉ có thể diễn tả như thế, Xuân Diệu mới phô diễn được cái ḷng ham sống, khát sống sung măn của ḿnh:


    Ta muốn ôm

    Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn
    Ta muốn riết mây đưa và gió lượn
    Ta muốn say cánh bướm với t́nh yêu
    Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều
    Và non nướ[c, và cây, và cỏ rạng,
    Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đă đầy ánh sáng,
    Cho no nê thanh sắc của thời tươi;
    - Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !

    Nếu chọn một đoạn thơ trong đó cái giọng sôi nổi bồng bột của Xuân Diệu thể hiện đầy đủ nhất, th́ đó phải là đoạn thơ này. Ta có thể nghe thấy giọng nói, nghe thấy cả nhịp đập của con tim Xuân Diệu trong đoạn thơ ấy. Nó hiện ra trong những làm sóng ngôn từ đan chéo nhau, giao thoa và song song vỗ vào tâm hồn người đọc. Cái điệp ngữ “ta muốn” được lặp đi lặp lại với mật độ thật dày và cũng thật đích đáng. Nhất là mỗi lần điệp lại đi liền với một động thái yêu đương mỗi lúc một mạnh mẽ, mănh liệt, nồng nàn: ôm – riết – say – thâu – cắn. Có thể nói câu thơ “Và non nước, và cây, và cỏ rạng” là không thể có đối với thư pháp trung đại vốn coi trọng những chữ đúc. Thậm chí, đối với thơ xưa, đó sẽ là câu thơ vụng. Tại sao lại thừa thăi liên từ “và” đến thế ? Vậy mà, đó lại là sáng tạo của nhà thơ hiện đại Xuân Diệu. Những chữ “và” hiện diện cần cho sự thể hiện nguyên trạng cái giọng nói, cái khẩu khí của thi sĩ. Nó thể hiện đậm nét sắc thái riêng của cái tôi Xuân Diệu. Nghĩa là thể hiện một cách trực tiếp, tươi sống cái cảm xúc tham lam đang trào lên mănh liệt trong ḷng ngực yêu đời của thi sĩ !


    Câu thơ:


    Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đă đầy ánh sáng

    Cho no nê thanh sắc của thời tươi

    ... cũng tràn đầy những làn sóng ngôn từ như vậy. Từ “cho” điệp lại với mức độ tăng tiến nhấn mạnh các động thái hưởng thụ thỏa thuê: chuếnh choáng – đă đầy – no nê. Sóng cứ càng lúc càng dâng cao, càng vỗ mạnh, đẩy cảm xúc lên tột đỉnh:Hỡi xuân hồng, ta muốn cắn vào ngươi !Ta thấy Xuân Diệu như một con ong hút nhụy đă no nê đang lảo đảo bay đi. Lại thấy thi sĩ như một t́nh lang trong cuộc t́nh chuếnh choáng men say.


    Có thể nói
    Xuân Diệu qua bài thơ này không chỉ "sống" hay "ham sống" mà ông "say sống". Sống mănh liệt, hối hả kẻo nữa lại tiếc nuối - Đó là một nhân sinh quan lành mạnh. Nó khác với sự nguội lạnh, hờ hững, lạt lẽo. Bài thơ là nhịp đập gấp gáp trước "thanh sắc trần gian" một ngày xuân của một trái tim chưa bao giờ chán sống.

    Sống là hạnh phúc. Muốn đạt tới hạnh phúc phải sống vội vàng. Thế là, vội vàng là cách đến với hạnh phúc, là chính hạnh phúc, và h́nh như cũng là cái giá phải trả cho hạnh phúc vậy ! Ta hiểu v́ sao khi
    Xuân Diệu xuất hiện, lập tức thi sĩ đă thuộc về tuổi trẻ !

    Sưu tầm


  3. #3
    Tham gia ngày
    Jun 2012
    Bài gửi
    70
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 1 lần trong 1 bài viết

    Bài 3
    PHÂN TÍCH BÀI THƠ VỘI VÀNG CỦA XUÂN DIỆU

    Mỗi lần những ḍng thơ trên, nhạc điệu “Vội vàng” cứ ngân vang dào dạt măi trong ḷng ta, t́nh yêu đời, yêu sống như tát măi không bao giờ cạn… Cảm thức về thời gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ… như những lớp sóng vỗ vào tâm hồn ta. “vội vàng” là bài thơ độc đáo nhất, “mới nhất” của thi sĩ Xuân Diệu in trong tập “Thơ Thơ” (1933-1938) – đóa hoa đầu mùa đầy hương sắc làm rạng danh một tài thơ thế kỷ.

    Bài thơ “Vội vàng” nói lên nhịp điệu sống, khát vọng sống của tuổi trẻ rất đẹp, rất đáng yêu. Một đời người chỉ có một lần tuổi trẻ. Phải biết trân trọng, quư trọng và sống hết ḿnh với tuổi trẻ, với mùa xuân và với thời gian.

    Trong “Tiểu dẫn” về bài thơ “Vội vàng” này (Văn 11), giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh viết:

    “Đây là tiếng nói của một tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt. Nhưng đằng sau những t́nh cảm ấy, có cả một quan niệm nhân sinh mới chưa thấy trong thơ ca truyền thống”.

    Thiên nhiên rất đẹp đầy hương sắc của hoa trên “đồng nội xanh ŕ”, của lá “cành tơ phơ phất”. “Tuần tháng mật” của ong bướm. “Khúc t́nh si” của yến anh. “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”. Chữ “này đây” được 5 lần nhắc lại diễn tả sự sống ngồn ngộn phơi bày, thiên nhiên hữu t́nh xinh đẹp thật đáng yêu. V́ lẽ đó nên phải vội vàng “tắt nắng đi” và “buộc gió lại”. Trong cái phi lư có sự đáng yêu của một tâm hồn lăng mạn.

    Tuổi trẻ rất đẹp, rất đáng yêu. B́nh minh là khoảnh khắc tươi đẹp nhất của một ngày, đó là lúc “thần vui hằng gơ cửa”. Tháng giêng là tháng khởi đầu của mùa xuân, “ngon như một cặp môi gần”. Một chữ “ngon” chuyển đổi cảm giác thần t́nh, một cách so sánh vừa lạ vừa táo bạo. Chiếc môi ấy chắc là của giai nhân, của trinh nữ. Đấy là câu thơ hay nhất, mới nhất cho thấy sắc cảm giác và tâm hồn yêu đời, yêu sống đến cuồng nhiệt của thi sĩ Xuân Diệu.

    Chắc là Xuân Diệu viết bài thơ này trước năm 1938, lúc ông trên dưới 20 tuổi, - cái tuổi thanh niên bừng sáng, nhưng thi sĩ đă “vội vàng một nửa” cách nói rất thơ - chẳng cần đến tuổi trung niên (nắng hạ) mới luyến tiếc tuổi hoa niên. Dấu chấm giữa ḍng thơ, thơ cổ khong hề có. Như một tuyên ngôn “vội vàng”:

    “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
    Tôi sung sướng. Nhưng vội vàng một nửa
    Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân’

    Vội vàng v́ thiên nhiên quá đẹp, v́ cuộc sống quá yêu, v́ tuổi trẻ qúa thơ mộng. Đang tuổi hoa niên mà đă “vội vàng” … Cảm thức của thi sĩ về thời gian, về mùa xuân, về tuổi trẻ rất hồn nhiên, mới mẻ.

    Quan niệm về thời gian có nhiều cách nói. Thời gian là vàng ngọc. Bóng ngả lưng ta. Thời gian vun vút thoi đưa, như bóng câu (tuấn mă0 vút qua cửa sổ, như nước chảy qua cầu. Thời gian một đi không trở lại, Xuân Diệu cũng có một cách nói rất riêng: tương phản đối lập để chỉ ra cái “lượng trời” cho một đời người chỉ có một thời xuân mà tuổi trẻ một đi qua không bao giờ trở lại…

    “Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua,
    Xuân c̣n non, nghĩa là xuân sẽ già
    Mà xuân hết, nghĩa là tôi cũng mất
    Ḷng tôi rộng, nhưng lượng trời cứ chật
    Không cho dài thời trẻ của nhân gian
    Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn
    Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại…”

    Giọng thơ sôi nổi như nước tự mạch nguồn tuôn ra. Một hệ thống tương phản đối lập: tới – qua, non – già, hết - mất, rộng - chật, tuần hoàn - bất phục hoàn, vô hạn - hữu hạn - để khẳng định một chân lư - triết lư: tuổi xuân một đi không trở lại, phải quư tuổi xuân.

    Cách nh́n nhận của thi nhân về thời gian cũng rất tinh tế, độc đáo nhạy cảm. Trong hiện tại đă bắt đầu có qúa khứ và đă hé lộ mầm tương lai, cái đáng có lại đang mất dần di…

    Và mối tương giao mầu nhiệm của cảnh vật, của tạo vật h́nh như mang theo nỗi buồn “chia phôi”, hoặc “tiễn biệt”, phải “hờn” v́ xa cách, phải “sợ” v́ “độ phai tàn sắp sửa”. Cảm xúc lăng mạn dào dạt trong cái vị đời. Nói cảnh vật thiên nhiên mà là để nói về con người, nói về nhịp sống khẩn trương “vội vàng” của tạo vật. Với Xuân Diệu hầu như cuộc sống nơi “vườn trầu” đều ít nhiều mang “bi kịch” về thời gian:

    “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi
    Khắp sông núi vẫn than thầm tiễn biệt”

    Cũng là “gió”, là “chim”… nhưng gió khẽ “th́ thào” v́ “hờn”, c̣n “chim” th́ bỗng ngừng hót, ngừng reo v́ “sợ”! Câu hỏi tu từ xuất hiện cũng là để làm nổi bật cái nghịch lư giữa mùa xuân – tuổi trẻ và thời gian:

    “Con gío xinh th́ thào trong lá biếc
    Phải chăng hờn v́ nỗi phải bay đi
    Chim rộn ràng bỗng dứt tiếng reo thi
    Phải chăng sợ độ phai tàn sắp sửa?”

    Thi sĩ bỗng thốt lên lời than. Tiếc nuối – lo lắng và chợt tỉnh “mùa chưa ngả chiều hôm” nghĩa là vẫn c̣n trẻ trung, chưa già. Lên đường! Phải vội vàng, phải hối hả. Câu cảm thán với cách ngắt nhịp biến hoá làm nổi bật nỗi ḷng vừa lo lắng băn khoăn vừa luống cuống tiếc rẻ, bâng khuâng


  4. #4
    Tham gia ngày
    Jun 2012
    Bài gửi
    70
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 1 lần trong 1 bài viết

    Bài số 4

    Phân tích bài “Vội Vàng” của nhà thơ Xuân Diệu



    Mở bài:

    Xuân Diệu là nhà thơ lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam ; nhà thơ lớn của dân tộc. Thơ Xuân Diệu là khúc hát nồng nàn, tha thiết về t́nh đời, t́nh người được thể hiện qua những cách tân nghệ thuật nhiều mới lạ. Cuộc sống trong thơ Xuân Diệu thật phong phú tuyệt diệu, Đó không phải là một thiên đường trên mặt đất, một vũ trụ đầy sung sướng, rất đáng sống (hỡi xuân hồng …). Đúng như nhà nghiên cứu văn học Vũ Ngọc Phan viết: “Với nguồn cảm hứng mới: yêu đương và tuổi xuân, dù lúc vui hay lúc buồn, Xuân Diệu cũng ru thanh niên bằng giọng yêu đời thấm thía”. Và có lẽ bài “Vội Vàng” bộc lộ đầy đủ nhất nhận định trên về thơ Xuân Diệu.

    Thân Bài:

    Bài “Vội Vàng” có h́nh ảnh cả một thiên đường trên mặt đất: Xuân Diệu phát hiện và khẳng định dứt khoát mùa xuân và mọi cảnh đẹp quanh ta là cả một thế giới thần tiên.Bốn câu đầu: H́nh ảnh cái tôi lăng mạn bộc lộ rất độc đáo:

    “Tôi muốn tắt nắng đi

    Cho màu đừng nhạt mất

    Tôi muốn buộc gió lại

    Cho hương đừng bay đi”.


    “Tắt nắng” để cho màu không nhạt phai, “buộc gió” để cho hương c̣n ở lại măi với hoa; cũng có nghĩa thi sĩ muốn lưu giữ thời gian để cho tuổi trẻ măi măi c̣n xanh; mùa xuân măi măi bên ta.Đó là tiếng nói của cái tôi đầy kiêu hănh với khát vọng mănh liệt lạ lùng, cho thấy tầm vóc của con người muốn vươn lên để có thể ngang tầm với tạo hóa. Thiên đường – mùa xuân ấy mang bao nhiêu vẻ đẹp: Sức sống của vạn vật đều rộn ràng tươi thắm, nảy nở rất trẻ trung: những ngày tháng tuyệt vời nhất của đôi lứa trong tuần tháng mật đầu tiên; trên nền tươi xanh của đồng nội bao la trổ lên những bông hoa tươi thắm; những cành non tơ của mùa xuân với những chiếc lá tươi xanh, xao động nhẹ nhàng trong gió xuân; và khắp không gian từ loài vật đến con người tất cả đều đắm say trong khúc t́nh si đôi lứa … thật tuyệt vời là buổi sáng mùa xuân, mặt trời lên đem đến nguồn sáng trong lành giống như người thiếu nữ tỉnh giấc nồng, bừng mở cặp mắt thần tiên … những cái chớp mắt đă phát hiện ra muôn vạn ánh hào quang; v́ thế cả mùa xuân giống như một thiên đường tươi non tràn ngập sức hấp dẫn:

    “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”


    Theo Xuân Diệu, cứ mỗi ngày xuân mới đến là bắt đầu một đoạn đời vui với bao nhiêu tốt lành sung sướng:

    “Mỗi buổi sớm thần Vui hằng gơ cửa”

    Qua h́nh ảnh thiên đường ấy Xuân Diệu muốn nói ǵ? Sao người ta cứ đi t́m bồng lai ở tận đâu đâu, cứ đi t́m cơi cực lạc ở măi chốn xa xăm nào, trong khi nó ở ngay cuộc sống quanh ta đây, ngay trong giờ phút hiện tại này. Vậy c̣n chờ ǵ nữa, hăy yếu mến, hăy gắn bó và sống hết ḿnh với cuộc sống thần tiên ấy. Nhà thơ láy nhiều lần hai chữ “này đây” để tô đậm thái độ trầm trồ, hào hứng trước cái đẹp dồi dào, không kể xiết của vẻ đẹp mùa xuân; qua đó mà nhấn mạnh: Con người cần phải đón nhận ngay, hưởng thụ ngay những vẻ đẹp tươi thắm đó. Thật ra thế giới tươi đẹp này, vườn xuân mơn mởm này đâu phải bây giờ mới có. Nhưng có mà mắt ta không nh́n thấy, thực chất tâm hồn ta không biết quan tâm và rung động, th́ có cũng như không. Thi sĩ không tạo ra được thế giới mới, nhưng có cặp mắt mới “cặp mắt xanh non, cặp mắt biếc rờn” … ngơ ngác và đầy vui sướng, Xuân Diệu lần đầu tiên như đă trông thấy sự sống ḱ diệu của mùa xuân; và nhà thơ nhất thiết phải nói cho hết thảy mọi người đều biết, đều quan tâm, hưởng thụ mùa xuân như ḿnh. Vậy là bằng h́nh tượng nghệ thuật, nghệ sĩ có thể đua tài với tạo hóa toàn năng, khi sáng tạo ra những h́nh tượng nghệ thuật phong phú, đầy mĩ cảm. Ở chốn thiên đường ấy, đẹp nhất, đáng yêu nhất là con người trần thế trong tuổi trẻ và t́nh yêu.Thơ xưa lấy vẻ đẹp thiên nhiên làm chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp của con người ( khuôn trăng, nét ngài,…). Xuân Diệu đưa ra một tiêu chuẩn khác, ngược lại với quan điểm truyền thống. Theo thi sĩ con người hồng hào mơn mởn giữa tuổi yêu đương là đẹp nhất. Đó mới là chuẩn mực cho mọi vẻ đẹp trên thế gian này. Đây là ư nghĩa nhân bản độc đáo của mĩ học Xuân Diệu. Nó đă giúp nhà thơ sáng tạo nên những h́nh ảnh mới mẻ, tràn đầy sức sống của tuổi trẻ và t́nh yêu. Bài “Vội Vàng” có 2 h́nh ảnh đặc sắc: Đó là nàng công chúa tỉnh giấc lúc b́nh minh:

    “Và này đây ánh sáng chớp hàng mi”


    Bài thơ c̣n có một h́nh ảnh độc đáo, đáng gọi là một sáng tạo tuyệt vời”:

    “Tháng giêng ngon như một cặp môi gần”,

    một h́nh ảnh táo bạo rất Xuân Diệu, một vẻ đẹp rất con người, rất trần thế. Nhưng cũng thật tuyệt mĩ,chỉ có tạo hóa toàn năng mói có thể làm nên được!

    Hoài Thanh khi xem Xuân Diệu là “nhà thơ mới nhất” trong phong trào thơ mới, đă rất tinh khi chỉ ra đặc điểm mĩ học mới mẻ của Xuân Diệu “với Thế Lữ, thi nhân ta c̣n nuôi giấc mộng lên tiên, một giấc mộng rất xưa. Xuân Diệu đốt cảnh bồng lai xua ai nấy về hạ giới” (Thi nhân Việt Nam ).

    Triết lí sống vội vàng thể hiện một quan điểm nhân sinh mới mẻ của Xuân Diệu. Sống vội vàng nghĩa là sống cao độ, tận hưởng cao độ mỗi giấy phút của tuổi xuân.

    V́ sao phải vội vàng? Xuân Diệu đă biện luận, đă lí sự theo một cách rất riêng.

    Từ xa xưa, văn chương đă than thở về sự ngắn ngủi của kiếp người ( đời người như bóng câu qua của sổ; ba vạn sáu ngàn ngày lfa mấy … ). Nhưng hồi ấy, con người nói chung vẫn ung dung b́nh tĩnh, v́ cá nhân chưa tách khỏi cộng đồng, con người c̣n gắn làm một với vũ trụ. Cho nên người chết chưa hẳn là hư vô, trái lại vẫn có thể cùng cộng đồng và trời đất tuần hoàn ( trong dân gian, có quan niệm về sự đầu thai kiếp khác; đoạn “trao duyên” trong truyện Kiều có sự h́nh dung của Kiều khi chết đi, hồn nàng sẽ hiện về trong gió, đến bên người yêu, “Hồn c̣n mang nặng lời thề - Nát thân bồ liễu đền nǵ trúc mai – Dạ đài cách mặt khuất lời – Rưởi xin chén nước cho người thác oan” … ). Niềm tin ấy c̣n đâu nữa ở thế hệ các nhà thơ mới thức tỉnh toàn diện và sâu sắc về ư thức cá nhân. Ư thức ấy là ǵ? Đó là cái khát vọng của con người muốn thoát ra khỏi những lễ nghi, tập tục phong kiến, muốn được sống một cuộc sống tinh thần phong phú và sâu sắc ( Hoài Thanh gọi đó là cái khát vọng được “thành thực”, khát vọng được là chính ḿnh). Xuân Diệu là nhà thơ mới nhất trong phong trào thơ mới; cho nên ư thức cá nhân rất cao. Nó trỗi dậy sừng sững:

    “Ta là Một, là Riêng, là thứ Nhất

    Không có chi bè bạn nổi cùng ta”


    và chói lọi:


    “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tối

    C̣n hơn buồn le lói suốt trăm năm”


    cho nên, ở bài “Vội Vàng” nổi bật lên triết lí sống mới mẻ và tích cực: sống “Vội Vàng” .

    Thi sĩ ư thức rất rơ về sự trôi chảy của thời gian, cái thời gian một đi không bao giờ trở lại:

    “Xuân đương tới, nghĩa là xuân đương qua

    Xuân c̣n non, nghĩa là xuân sẽ già”


    Mà đời th́ hữu hạn, thậm chí rất ngắn ngủi trước thời gian vô cùng và vũ trụ vô biên:

    “Nói làm chi rằng xuân vẫn tuần hoàn

    Nếu tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại

    C̣n trời đất nhưng chẳng c̣n tôi măi”.


    Cho nên Xuân Diệu quyết không để “chờ nắng hạ mới hoài xuân” v́ vậy thi sĩ “bâng khuâng tiếc cả đất trời”. Để bênh vực thêm cho “luận thuyết” của ḿnh , nhà thơ c̣n viện dẫn:

    “Con gió xinh th́ thào trong lá biếc

    Phải chăng hờn v́ nỗi phải bay đi

    Chim rộn ràng bỗng đứt tiếng reo thi

    Phải chẳng sợ độ phai tàn sắp sửa?”


    Gió đùa trong lá không phải là những âm thanh tươi vui của thiên nhiên, của mùa xuân, mà là lời “th́ thào” về nỗi hờn giận, buồn thương. Gió phải chia tay với cây lá mà bay đi; chim chóc trên cây đang ca hát rộn ràng chào xuân bỗng ngừng bặt, chẳng phải có sự đe dọa nguy hiểm nào, mà chỉ v́ chúng buồn tiếc cho mùa xuân sắp trôi qua. Thế là chẳng riêng ǵ Xuân Diệu mà cả vạn vật trong thiên nhiên cũng thức nhận về cái quy luật nghiệt ngă, cái một đi không bao giờ trở lại của thời gian:

    “Mùi tháng năm đều rớm vị chia phôi

    Khắp sông núi vẫn than thần tiễn biệt”.

    Vậy Xuân Diệu đưa ra một quyết định hợp lí cho ḿnh và muốn cho tất cả mọi người “Không chờ nắng hạ mới hoài xuân”.

    Vội vàng là điều tất yếu nhưng phải vội vàng theo cách nào? Không thụ động chấp nhận cái phai tàn của sự sống mùa xuân, Xuân Diệu chọn một giải pháp độc đáo đón xuân, hưởng hạnh phúc mùa xuân thật khẩn trương và ngay lập tức (Vội Vàng). Thật ra không phải thi sĩ không đắn đo khi nghĩ tới một giải pháp cố níu giữ thời gian lại ( Tôi muốn tắt nắng đi – Cho màu đừng nhạt mất – Tôi muốn buộc gió lại – Cho hương đừng bay đi ). Nhưng thi sĩ và cả mọi người đều biết ngay là không thể được. Vậy chỉ c̣n một cách:

    “Ta muốn ôm

    Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;

    Ta muốn riết mây đưa và gió lượn;

    Ta muốn say cánh bướm với t́nh yêu

    Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều

    Và non nước, và cây, và cỏ rạng

    Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đă đầy ánh sáng

    Cho no nê thanh sắc của thời tươi

    - Hỡi xuân hồng! Ta muốn cắn vào ngươi”.


    “Ta” là tiếng nói của cái tôi đầy kiêu hănh, tự chủ. Một câu thơ chỉ có ba chữ “Ta muốn ôm” với giọng thơ rắn chắc thể hiện một ư chí dứt khoát. “Ôm” xem chừng c̣n lỏng lẻo quá. Tất cả vè đẹp của đời rồi sẽ trôi đi, cho dù con người có dang tay mà ôm chặt lấy. V́ thế, “riết” cho thêm chặt: “Ta muốn riết mây đưa và gió lượn”. “Riết” dù chặt đến mấy, vẫn chỉ là bên ngoài, nên phải chuyển hóa vào bên trong, phải say trong tâm hồn: “Ta muốn say cánh bướm với t́nh yêu”. “Say” đến thế nào đi chăng nữa th́ đối tượng mà ta say vẫn chỉ là một khách thể, nên càng đ̣i hỏi cao hơn, tức là phải thu hút, phải thâu tóm đối tượng về phía ḿnh: “Ta muốn thâu trong một cái hôn nhiều”. “Hôn nhiều” chẳng qua chỉ là một phương tiện, một cách nói về sự thu hút cho đến tận cùng, cho hết mọi vẻ đẹp “mây đưa và gió lượn, cánh bướm với t́nh yêu”, non nước, trời mây,… chẳng qua chỉ là những h́nh ảnh mang tính biểu trưng cho những vẻ đẹp của sự sống mơn mởn giữa cuộc đời. Xuân Diệu thể hiện một thái độ tận hưởng đến mức cuồng nhiệt, đến mức tối đa: “Cho chuếnh choáng mùi thơm, cho đă đầy ánh sáng – Cho no nê thanh sắc của thời tươi;”. “Chuếnh choáng”, “no nê”, “đă đầy” là những tính từ chỉ mức độ hưởng thụ. Những vật trừu tượng giờ đây cũng hóa thành vật chất cụ thể đến mức có thể “đă đầy”, “no nê”. Cần nhớ, với Xuân Diệu, tất cả mọi vẻ đẹp đều chỉ gắn với “thời tươi”, tức là thời của tuổi xanh đương độ, mơn mởn non tơ, tràn đầy sức sống. Thế mà vẫn chưa hả ḷng hả dạ, thi sĩ c̣n một đ̣i hỏi quyết liệt hơn: “Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi”. “Xuân hồng” là một h́nh ảnh đa nghĩa nói về mùa xuân đương độ của đất trời với hoa lá non tơ, cũng là tuổi xuân đương độ của mỗi con người, đồng thời có thể là một h́nh ảnh cụ thể, một dáng xuân tươi trẻ nào đó. “Cắn” tưởng như thô thiển nhưng đầy chất thơ. “Cắn” chẳng qua là sự hưởng thụ cả vật chất lẫn tinh thần – sự hưởng thụ trọn vẹn và sâu sắc. Với tuổi trẻ đừng chỉ soi ngắm ḿnh trong gương mà phải biến tất cả những vẻ đẹp trên đời thành vật chất để mà hưởng thụ. Ngoài ra, “cắn vào ngươi” đặt trong hệ thống của mạch thơ toàn bài, của hành động liên tiếp, của nhân vật trữ t́nh (ôm, riết, say, thâu) c̣n là biểu hiện của tâm trạng hoảng hốt trước vẻ đẹp đang trôi đi. V́ thế, phải “cắn” để mà giữ lấy! Trong t́nh yêu lứa đôi, người ta thường đi t́m sự ḥa đồng đến tuyệt đích, đến vô biên giữa hai cá thể. Cho nên “cắn vào ngươi” là đ̣i hỏi được hóa thân trong t́nh yêu. Đây là một cách dùng từ hết sức táo bạo và đầy sáng tạo của Xuân Diệu. Phải dùng từ như thế mới nói hết được khát vọng sống mạnh mẽ đến ham hố, đến cuồng nhiệt của con người.

    KL:


    “Vội Vàng” là sự thể hiện cái nh́n về thời gian và sự sống của Xuân Diệu. Bài thơ có thể coi là bức tranh nhân sinh mới, tiến bộ của Xuân Diệu. “Vội Vàng” v́ thế cũng là một lời khuyên với mỗi người đọc, nhất là tuổi trẻ, phải làm cho tuổi xuân của ḿnh trở nên có ư nghĩa, đừng để cho nó trôi đi trong sự hoài phí. Tuổi xanh rồi sẽ qua đi (Tuổi trẻ chẳng hai lần thắm lại) nhưng nếu chỉ biết vội vàng tận hưởng mà chẳng biết làm ǵ để có sự tận hưởng đó, làm ǵ để góp cái có ích cho đời th́ lại là một thái độ sống tiêu cực., lối ống ích kỉ, cá nhân chủ nghĩa. Mà Xuân Diệu th́ “cả cuộc đời luôn luôn học tập, rèn luyện và lao động sáng tạo vừa là một quyết tâm khắc khổ, một lẽ sống, một niềm say mê lớn”.

    Về nghệ thuật: Bài “Vội Vàng” có được sự kết hợp nhuần nhị giữa mạch cảm xúc dồi dào ( thiên đường mùa xuân trên mặt đất, ḷng yêu đời ham sống của nhà thơ ) và mạch triết luận sâu sắc ( đẹp nhất không phải cơi tiên mà là cơi trần trong tuổi trẻ và mùa xuân; thời gian qua mau, tuổi trẻ ngắn ngủi v́ thế phải “vội vàng” tận hưởng – phải “cắn” vào “xuân hồng” … ).Thể hiện hai chủ đề ḷng yêu đời, yêu cuộc sống và một quan niệm sống mới mẻ, Xuân Diệu đă chọn được những h́nh thức mới lạ cho thơ. Thể thơ tự do ( bốn chữ, tám chữ có khi một câu ba chữ ) thích hợp với mạch cảm xúc và triết luận của bài. Giọng thơ nhiệt thành hào hứng càng nổi bật ḷng ham sống của thi nhân. Đặc biệt là những sáng tạo của h́nh ảnh ( câu 5 đến câu 10, câu 25 đến câu 28 ) khiến cho lời thơ tràn đầy sự sống và cảm xúc. Có những ư thơ rất lạ lùng ( 4 câu đầu ) và những h́nh ảnh rất Xuân Diệu ( Và này đây ánh sáng chớp hàng mi/ Tháng giêng ngon như một cặp môi gần/ Hỡi xuân hồng! Ta muốn cắn vào ngươi ) càng làm nổi bật cảm hứng chủ đạo của bài thơ.

    (ST)

Từ khóa cho bài viết này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của ḿnh
  •