1. Đăng nhập
  2. Đăng kư
Hiện kết quả từ 1 tới 3 của 3
  1. #1
    Tham gia ngày
    Jun 2012
    Bài gửi
    70
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 1 lần trong 1 bài viết

    B́nh giảng bài thơ Thương vợ của Tú Xương

    ►Xem: 2117 ►Trả Lời: 2
    ►Chia Sẽ:
    27-06-2012

    THƯƠNG VỢ CỦA TÚ XƯƠNG - TRẦN TẾ XƯƠNG


    Thơ xưa viết vế người vợ đă ít; mà viết về người vợ khi c̣n sống càng hiếm hoi hơn. Các thi nhân thường chỉ làm thơ khi người bạn trăm năm đă qua đời. Kể cũng là điều nghiệt ngă
    khi người vợ đi vào cơi thiên thu mới được bước vào địa hạt thi ca.


    Bà Tú Xương có thể đă phải chịu nhiều nghiệt ngă của cuộc đời nhưng bà lại có niềm hạnh phúc mà bao kiếp người vợ xưa không có được: Ngay lúc c̣n sống bà đă đi vào thơ ông Tú Xương với tất cả niềm thương yêu, trân trọng của chồng. Trong thơ Tú Xương, có một mảng lớn viết về người vợ mà bài Thương vợ là một trong những bài xuất sắc nhất.


    T́nh thương vợ sâu nặng của Tú Xương thể hiện qua sự thấu hiểu nỗi vất vả gian lao và phẩm chất cao đẹp của người vợ.


    Câu thơ mở đâu nói hoàn cảnh làm ăn buôn bán của bà Tú. Hoàn cảnh vất vá, lam lũ được gợi lên qua cách nói thời gian, cách nêu địa điểm. Quanh năm là suốt cả năm, không trừ ngày nào dù mưa hay nắng. Quanh năm c̣n là năm này tiếp năm khác đến chóng mặt, đến ră rời chứ đâu phải chỉ một năm. Địa điểm bà Tú buôn bán là mom sông, cái doi đất nhô như lời giới thiệu, lại như một bối cảnh làm hiện lên h́nh bà Tú tần tảo, tất bật ngược xuôi:
    Quanh năm buôn bán ở mom sông..


    Thấm thía nỗi vất vả, gian lao của vợ, Tú Xương mượn h́nh ảnh con c̣ trong ca dao để nói về bà Tú. Có diều h́nh ảnh con c̣ trong ca dao đầy tội nghiệp mà h́nh ảnh con c̣ trong thơ Tú Xương c̣n tội nghiệp hơn. Con c̣ trong thơ Tú Xương không chỉ xuất hiện
    trong cái rợn ngợp của không gian (như con c̣ trong ca dao) mà cái rợn ngợp của thời gian. Chỉ bằng ba từ khi quăng vắng, tác giả đă nói lên được cả thời gian, không gian heo hút, rợn ngợp, chứa đầy lo âu cái rợn ngợp của thời gian, đă làm hao hụt cả ư thơ. So với câu ca dao: Con c̣ lặn lội bờ sông, câu thơ của Tú Xương: Lặn lội thân c̣ khi quăng vắng là cả một sự sáng tạo. Cách đảo ngữ - đưa ra từ lặn lội lên đầu cáu, cách thay từ - thay từ con c̣ bằng thân c̣ - càng làm tăng nỗi vất vá gian truân của bà Tú. Từ thân
    c̣ gợi cả nỗi đau thân phận, so với từ con của Tú Xương cũng sâu sắc thấm thía hơn.
    Nếu câu thơ thứ ba gợi nỗi vất vả đơn chiếc th́ câu thứ tư lại làm rơ sự vật lộn với cuộc sống của bà Tú:


    Eo sèo mặt nước buổi đ̣ đông.


    Câu thơ gợi cảnh chen chúc, bươn chải trên sông nước của những người buôn bán nhỏ. Sự cạnh tranh chưa đến mức sát phạt nhau nhưng cũng không thiếu lời qua tiếng lại. Buổi đ̣ đông đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi quăng vắng. Trong ca dao, người mẹ từng đặn con rằng:


    . Con ơi nhớ lấy câu này
    Sông sâu chớ lội, đ̣ đầy chớ qua.


    Buổi đ̣ đông không chi có những lời phàn nàn, mè nheo, cáu gắt, những sự chen lấn, xô đẩy mà c̣n chứa đầy bất trắc hiểm nguy. Hai câu thực đối nhau về ngữ (khi quăng vắng đối với buổi đ̣ đông) nhưng lại thừa tiếp nhau về ư để làm nổi bật sự vất vả gian truân của bà Tú: đă vất vả, đơn chiếc, lại thêm sự bươn chải trong hoàn cảnh chèn chúc làm ăn. Hai câu thực nói thực cảnh bà Tú đồng thời cho ta thấy thực t́nh của Tú Xương, đó là tấm ḷng
    xót thương da diết.


    Cuộc sống vất vả gian truân càng ngời lên phẩm chất cao đẹp của bà Tú. Bà là người đảm đang tháo vát:


    Nuôi đủ năm con với một chồng.


    Mỗi chữ trong câu thơ Tú Xương đều chất chứa bao t́nh ư, từ đủ trong nuôi đủ vừa nói số lượng, vừa nói chất lượng. Bà Tú nuôi đủ cả con, cả chồng, nuôi đảm bảo đến mức:


    Cơm hai bữa: cá kho rau muống
    Quà một chiều: khoai lang, lúa ngô
    (Thầy đồ dạy học)


    Trong hai câu luận, Tú Xương một lần nữa cám phục sự hy sinh rất mực của vợ:


    Năm nắng mười mưa dám quản công


    Ở câu thơ này, nắng mưa chỉ sự vất vả, năm mười là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra tạo nên một thành ngữ chéo (năm nắng mười mưa) vừa nói lên sự vất vả gian lao, vừa thể hiện được đức tính chịu thương chịu khô, hết ḷng v́ chồng v́ con của bà Tú.


    Trong những bài thơ viết về vợ của Tú Xương, bao giờ ta cũng bắt gặp h́nh ảnh hai người: bà Tú hiện lên phía trước, ông Tú khuất lấp ở phía sau, nh́n tinh mới thấy. Khi đă thấy rồi th́ ấn tượng thật sâu đậm. ờ bài thơ thương vợ cũng vậy. ông Tú không xuất hiện trực tiếp nhưng vẫn hiển hiện trong từng câu thơ. Đằng sau cốt cách khôi hài, trào phúng là cả một tấm ḷng, không chỉ thương mà c̣n tri ân vợ.


    Về câu thơ Nuôi đủ năm con với một chồng, có người cho rằng ở đây ông Tú tự coi ḿnh là một thứ con đặc biệt để bà Tú phải nuôi. Tú Xương đă không gộp ḿnh với con để nói mà tách riêng, con riêng rất rạch ṛi là để ông tự riêng tri ân vợ. Nhà thơ không chỉ cảm phục, biết ơn sự hi. sinh rất mực của vợ mà ông c̣n tự trách, tự lên án bản thân. ông không dựa vào duyên số để trút bỏ trách nhiệm. Bà Tú lấy ông là do duyên nhưng duyên
    một mà nợ hai. Tú Xương tự coi ḿnh là cái nợ mà bà Tú phải gánh chịu Nợ gấp đôi duyên, duyên ít nợ nhiều. ông chửi thói đời bạc bẽo, v́ thói đời là một nguyên nhân sâu xa khiến bà Tú phải khổ.


    Nhưng Tú Xương cũng không đổ vấy cho thói đời. Sự hờ hững của ông với con cũng là một biểu hiện của thói đời bạc bẽo. Câu thơ Tú Xương tự rủa mát ḿnh cũng là lời tự phán xét, tự lên án:


    Cô chồng hờ hững cũng như không


    Ở cái thời mà xă hội đă có luật không thành văn đối với người phụ nữ: xuất giá ṭng phu (lấy chồng theo chồng), đối với mối quan hệ vợ chồng th́ phu xướng, phụ tùy (chồng nói, vợ theo), 'thế mà có một nhà nho đám ṣng phẳng với bản thân, với cuộc đời, đám tự thừa nhận ḿnh là quân ăn lương vợ, không những đă biết nhận ra thiếu sót, mà c̣n đám tự nhận khuyết điểm. Một con người như thế chẳng đẹp lắm sao?


    Nhan đề Thương vợ chưa nói hết sự sâu sắc trong t́nh cảm của Tú Xương đối với vợ cũng như chưa thể hiện được đầy đủ về đẹp nhân bản của hồn thơ Tú Xương. ở bài thơ này, tác giả không chỉ thương vợ mà c̣n ơn vợ, không chỉ lên án thôi đời mà c̣n tự trách.
    Nhà thơ dám tự nhận khuyết điểm, càng thấy ḿnh khiếm khuyết càng thương yêu, quư trọng vợ hơn.


    T́nh thương yêu, quư trọng vợ là cảm xúc có phần mới mẻ so với những cảm xúc quen thuộc trong văn học trung đại. Cảm xúc mới mẻ đó lại được diễn tả bằng h́nh ánh và ngôn
    ngữ quen thuộc của văn học dân gian, chứng tỏ hồn thơ Tú Xương dù mới lạ, độc đáo vẫn rất gần gũi với mọi người, vẫn có gốc rễ sâu xa trong tâm thức dân tộc.


    Sưu tầm
    Xem thêm bài khác

  2. #2
    Tham gia ngày
    Jun 2012
    Bài gửi
    70
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 1 lần trong 1 bài viết

    GIẢNG BÀI THƠ THƯƠNG VỢ CỦA TÚ XƯƠNG




    Chúng ta đă từng biết đến một Khuê ai lục của Ngô Th́ Sỹ khóc người vợ yêu qua đời giữa lúc đầu xanh tuổi trẻ, một Đoạn trường lục của Phạm Nguyễn Du thương tiếc người vợ đă khuất, những câu thơ dứt ruột của Tự Đức và trước Tú Xương một chút là câu đối khóc vợ chứa chan t́nh người của Nguyễn Khuyến. Các nhà thơ trung đại Việt Nam viết về vợ ḿnh không nhiều, mà chủ yếu lại là văn tế và câu đối khóc người đă khuất. Chỉ có một số nhà thơ như Cao Bá Quát, Bùi Hữu Nghĩa, Phạm Văn Nghị là có viết về vợ ḿnh ngay lúc đang sống. Nhưng viết nhiều nhất và hay nhất, mà lại là về một người vợ đang c̣n hiện hữu trên đời th́ có lẽ Trần Tế Xương (1870 - 1907) là tác giả tiêu biểu hơn cả. Và nếu có làm văn tế th́ cũng là Văn tế sống vợ (!),không phải để tiếc thương mà để cười thương ngợi ca người bạn đời của ḿnh.k
    Tú Xương có rất nhiều khác biệt với các tác giả trước ông. Nhà thơ này của làng Vị Xuyên là con người của buổi giao thời, là dấu nối đầy ấn tượng giữa nền văn học trung đại ở giai đoạn cuối chiều nhưng lại kết tinh tinh hoa của hàng ngh́n năm với nền văn học cận hiện đại đang bắt đầu có dấu hiệu h́nh thành với bao điều mới mẻ. Trên đầu Tú Xương không c̣n những áp lực nặng nề của tư tưởng và quan niệm chính thống khắt khe đă quy định các tác giả trước ông, trong ông nhiều giá trị của quá khứ đang từng bước sụp đổ và cái mới th́ chưa kịp tới. Quan niệm của một nhà thơ trào phúng cũng giúp ông tiếp cận cuộc đời theo một kiểu khác, gần hơn, với một kiểu tư duy nghiêng về phân tích, mổ xẻ đối tượng, đưa vào trong thơ nhiều h́nh ảnh sống động hơn, quan niệm thẩm mỹ cũng biến đổi hướng về thực tại. Điều đó tạo cho ông những khoảng không sáng tạo quan trọng, giúp ông khác với truyền thống.


    Thơ Nôm Đường luật đến Tú Xương đă trải qua một thời gian phát triển khá dài, nó liên tục được cách tân từ thời Nguyễn Trăi, và tác giả Thương vợ chính là người đă đem đến cho thể loại văn học đă được Việt hóa cao độ này những phá cách mới mẻ giàu giá trị nghệ thuật. Đây là một bài thơ Nôm, viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, có kết cấu theo tŕnh tự đề, thực, luận, kết, ông Tú viết để tặng người vợ tảo tần mưa nắng của ḿnh.


    Trần Tế Xương chủ yếu là một nhà thơ trào phúng, trào phúng chuyên nghiệp. Những bài thơ nghiêng về trữ t́nh như Sông Lấp, Áo bông che bạn, Thương vợ không nhiều, nhưng bài nào cũng xuất chúng. Thương vợ lại tiêu biểu cho sự ḥa hợp giữa hai phẩm chất nghệ thuật nổi bật trong sáng tác của ông: trào phúng và trữ t́nh, trong đó trữ t́nh là chính, là cơ bản. Bà Tú là một đề tài khá quen thuộc trong thơ Tú Xương, h́nh ảnh bà đă đi vào sáng tác của ông trong các bài như: Đau mắt, Văn tế sống vợ, Tự cười ḿnh, Hỏi ḿnh... và Thương vợ. Những bài thơ này cho chúng ta thấy, bên cạnh một Tú Xươn trào phúng sắc sảo, ngang ngạnh, tinh quái, khác đời là một Tú Xương khác rất mực đằm thắm, biết tự hạ ḿnh để làm đẹp người khác. Không phải lúc nào con người ấy cũng chế giễu, cười người, cay độc mà nhiều lúc ông vẫn để cho ḷng ḿnh sâu lắng lại và bật ra những bài thơ chứa chan t́nh cảm, giàu sự suy tư, dằn vặt.


    Thương vợ viết về bà Tú nhưng thực ra lại có sự song hành của cả hai h́nh tượng: h́nh tượng bà Tú được thể hiện một cách nổi bật trực tiếp và h́nh tượng ông Tú được khắc hoạ một cách gián tiếp nấp sau người vợ nhưng vẫn khá rơ nét. Thực chất Tú Xương viết thơ để ca ngợi vợ và muốn khắc hoạ h́nh qảnh một ông “chồng thừa” vô trách nhiệm chứ không hề có ư đề cao ḿnh nhưng vô h́nh chung vẫn hiển hiện trong bài thơ một nhân cách cao đẹp của người chồng và từ đó là một quan niệm khác biệt về người vợ so với truyền thống.


    Tú Xương đă giới thiệu vợ ḿnh một cách thân mật, gần gũi, hóm hỉnh nhưng ẩn chứa trong đó bao t́nh cảm và nỗi niềm dằn vặt, xót xa:


    Quanh năm buôn bán ở mom sông


    Câu thơ ngắn gọn đă phản ánh một cách cụ thể, chi tiết không gian, địa điểm và công việc làm ăn của bà Tú. Tên thật của bà là Phạm Thị Mẫn, quê ở Lương Đường, Hải Dương, nhưng sinh tại Nam Định. Bà chuyên buôn bán gạo ở bến sông để nuôi gia đ́nh. Hai từ “quanh năm” nói lên được nỗi vất vả, tần tảo của bà Tú triền miên hết ngày này đến ngày khác, tháng này đến tháng khác, năm này đến năm khác... Ṿng quay của thời gian vô tận đă cuốn bà vào cuộc vật lộn mưu sinh đầy vất vả. Cách tính thời gian như thế vừa nói được nỗi lo toan khó nhọc của bà Tú, lại vừa là cách ông Tú tỏ ḷng biết ơn công lao tần tảo sớm hôm của vợ ḿnh. Biện pháp tăng cấp ư được sử dụng để diễn tả sự vất vả, từ thời gian (quanh năm), nghề nghiệp (buôn thúng bán mẹt), cho đến không gian, địa điểm làm ăn: “mom sông”. Mom sông là một nơi chênh vênh, ba bề là nước, nó gợi lên sự nguy hiểm, bất trắc, vốn không phải là nơi dành để buôn bán b́nh thường. Bởi vậy hơn ai hết, Tú Xương hiểu rơ mục đích của nỗi vất vả đó nơi người vợ:


    Nuôi đủ năm con với một chồng


    Đôi quang gánh cuộc đời trên vai bà Tú thật quá nặng. Một ḿnh bà phải nuôi đến sáu miệng ăn, đó là chưa kể đến chính bản thân ḿnh. Tú Xương không tính bà vào thành phần phải “nuôi đủ” là chính đáng, do bà là người làm ra của cải cưu mang cả gia đ́nh, nhưng cũng là một cách đề cao bà, ngầm xếp bà ra một thứ bậc khác. Đây là cách tính công, đề cao công lao của vợ một cách chi li, rất mực ân t́nh của Tú Xương. Mẹ nuôi con mà không có chồng giúp sức, tuy vất vả nhưng c̣n là chuyện thường t́nh, dẫu sao cũng là thiên chức của người phụ nữ. Điều lạ là cả đến ông Tú bà cũng phải nuôi. Quả thực đây là một sự vô lư, bất công khi gánh nặnggia đ́nh dồn hết lên vai người vợ. Tú Xương đă tách ra làm hai cái gánh nặng ấy: năm con với một chồng, để thấy rơ cái công ơn của bà với gia đ́nh và với riêng ông. Nhưng gánh nặng dường như nghiêng lệch, trĩu nặng hơn về một bên, phía một ḿnh ông chồng vô tích sự nhưng lại đa sự nhiều hơn năm đứa con thơ, khiến câu thơ cũng như oằn hẳn về phía cuối. Cách kể công cho vợ như vậy thật là độc đáo, thật là Tú Xương. Nhà thơ đă tự hạ ḿnh xuống mức thấp hơn cả lũ con, đứng riêng ra một bên, v́ ông là một thứ chồng đặc biệt mà bà Tú phải nuôi riêng. Liên từ “với” nghe thật buồn, thật hài hước, thật hổ thẹn và thảm hại. “Nuôi đủ” ông không chỉ là đảm bảo những nhu cầu như một người b́nh thường mà c̣n là đủ thứ cao sang tốn kém, đủ cả mọi đ̣i hỏi sở thích ăn chơi đàn đúm của ông:


    Biết thuốc lá, biết chè tàu
    Cao lâu biệt vị, hồng lâu biết mùi.


    Nuôi một người ăn chơi phong lưu “ngựa xe chẳng có lúc nào ngơi”, nổi tiếng có “ṇi t́nh”, lại c̣n suốt đời theo đ̣i thi cử công danh như vậy thật khác hẳn với việc nuôi con, và có lẽ c̣n tốn kém hơn cả năm đứa con thơ. Theo quan niệm truyền thống th́ kẻ làm trai phải để chí ở công danh, sự nghiệp, thông qua con đường khoa cử làm quan, c̣n chuyện bếp núc gia đ́nh th́ phó mặc cho người phụ nữ. Đă có biết bao thầy đồ nghèo nhờ vợ tảo tần cơm áo mà thành danh. Xă hội ấy có biết bao “ông quan ăn lương vợ”, biết bao ông chồng ăm bám mà vẫn lên mặt hành hạ vợ con. Thói gia trưởng, sĩ diện khiến cho mấy ai dám hạ ḿnh nói thẳng, nói thật cái hoàn cảnh ăn bám, vô tích sự của ḿnh. Nhưng đă có một Tú Xương đầy dũng cảm dám vất bỏ cái nếp nghĩ cổ hủ đề cao người đàn ông, khinh rẻ người phụ nữ, dám bêu ra trước thiên hạ những kém cỏi, sĩ diện hăo đó để tôn vinh công lao người vợ, để sống thật với những cảm xúc, suy nghĩ của chính ḿnh. Sự khác đời, khác với với truyền thống của nhà thơ chính là ở chỗ đó. Những người khác cho đó là chuyện thường t́nh, chuyện tất yếu, c̣n Tú Xương nhận thức rơ ràng về sự thừa ra, vô lư của ḿnh. Mặc cảm “con người thừa” là mặc cảm của thế hệ Tú Xương, đă rơ nét từ Nguyễn Khuyến (Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh chọe / Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi; Nghĩ ḿnh cũng gớm cho ḿnh nhỉ / Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng), nhưng lại càng rơ nét hơn, hiện thực hóa hơn ở nhà thơ thành Nam, ông đă đẩy “con người thừa” thành con người nhỏ bé thảm hại và không ngần ngại phủ định ḿnh, tầm thường hóa bản thân ḿnh ở mức thấp nhất. Trước ông chưa có một nhà thơ nào vượt qua nổi ư thức tự trọng của một nhà nho để bày ra trước mọi người những hạn chế của ḿnh. Nhưng đó dường như không phải chủ đích của ông. Điều ông muốn thể hiện khi dám vất bỏ cái sĩ diện hăo của kẻ “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” chính là xuất phát từ ḷng tri ân với người vợ đă hết ḷng v́ ông, biết đền bù lại bằng cái t́nh, bằng tấm ḷng trân trọng, biết ơn nỗi vất vả mệt nhọc của bà. Nói lên được điều đó đối với một người chồng trong một xă hội coi thường người phụ nữ thật không phải điều dễ dàng. Tấm ḷng ấy thật đáng yêu, đáng trân trọng biết bao! Câu thơ tả thực chất chứa ư vị tự trào mà lại cay đắng, xót xa, cười ra nước mắt.


    Vẻ đẹp của người vợ càng được biểu hiện một cách cụ thể qua những chật vật, bon chen trong cảnh làm ăn vất vả, tội nghiệp hàng ngày:


    Lặn lội thân c̣ khi quăng vắng
    Eo sèo mặt nước buổi đ̣ đông.


    Các nhà nghiên cứu đă nói về việc Tú Xương đă mượn h́nh ảnh con c̣ trong ca dao xưa để nói về nỗi vất vả đơn chiếc và sự chịu thương, chịu khó, hi sinh thầm lặng của bà Tú:


    Con c̣ lặn lội bờ sông
    Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non...


    So với ca dao, câu thơ của Tú Xương có nhiều cái mới. Cái mới thứ nhất là việc đưa động từ “lặn lội” lên đầu câu, khiến câu thơ trở nên có sức nặng hơn khi khắc sâu nỗi vất vả đơn chiếc của bà Tú giữa cái rợn ngợp của không gian. Cái mới thứ hai, cũng là sáng tạo mang tính chất thời đại, là sự tiếp tục của chủ nghĩa nhân đạo v́ con người và phát hiện ra con người của văn học thế kỷ XVIII - XIX, khi nhà thơ chuyển từ “con c̣” trong ca dao thành “thân c̣” để chỉ cả một kiếp người, nhấn mạnh đến thân phận người phụ nữ. Chữ “thân” luôn gợi cảm giác nhỏ bé tội nghiệp, bơ vơ chịu đựng. Nữ sĩ Xuân Hương khi xưa đă từng ngậm ngùi viết:


    Thân em vừa trắng lại vừa tṛn
    Bảy nổi ba ch́m với nước non.


    Ở người phụ nữ xưa, “thân” luôn gắn với “phận”, chính v́ vậy mà thi hào Nguyễn Du đă bao lần phải thốt lên:


    Đau đớn thay phận đàn bà


    Và nàng Kiều của ông trong những tháng ngày nhơ nhuốc đă phải tạm cúi đầu chấp nhận số phận:


    Thân lươn bao quản lấm đầu
    Chút ḷng trinh bạch từ sau xin chừa.


    Những vấn đề xă hội về thân phận con người đến Tú Xương đă trở nên gần gũi hơn khi nhà thơ nhận thấy điều đó hiện hữu ngay trong những người thân của ḿnh và ám ảnh trong chính bản thân ḿnh, một kẻ lỡ thời vô tích sự. Điều thứ ba là nếu trong ca dao mới chỉ có cái heo hút của không gian th́ “thân c̣” trong thơ Tú Xương c̣n ở giữa sự rợn ngợp của thời gian. “Khi quăng vắng” khác với “nơi quăng vắng”, “ở quăng vắng”, nó diễn tả được cả cảm giác đơn lẻ đầy hiểm nguy về không gian và nỗi khắc khoải côi cút về thời gian của sự vất vả, tảo tần.


    Ta như thấy đằng sau mỗi câu chữ là ánh mắt lo âu đầy ăn năn tự vấn của người chồng đang dơi theo bóng dáng lẻ loi, lam lũ của người vợ trên con đường gập gềnh sương gió, giữa thời buổi của sự bon chen và t́nh đời bạc bẽo:


    Eo sèo mặt nước buổi đ̣ đông.


    Đó thực sự là cuộc chiến âm thầm và dai dẳng giữa ḱ kèo, đôi co, chen chúc, bất chấp cảnh “đ̣ đầy” để giành giật miếng cơm manh áo cho con, để đổi lại sự thong dong nhàn nhă cho chồng. Chuyến đ̣ đầy gian nan nguy hiểm đó giống như chính cuộc đời đầy vất vả của bà Tú vậy: biết đ̣ đă đầy, chất chứa bao hiểm nguy, văng vẳng bên tai lời mẹ dặn “đ̣ đầy chớ qua” mà vẫn cứ phải dấn thân, phải bước tới, phải vật lộn. Hai từ láy “lặn lội”, rồi “eo sèo” được đảo lên đầu câu càng như nhấn mạnh thêm nỗi cực nhọc, lam lũ trong bươn trải kiếm sống của người phụ nữ này.


    Phải nói rằng, nghệ thuật b́nh đối trong hai câu thực đă góp phần quan trọng vào việc dựng lại chân dung con người cả về thể chất lẫn tinh thần và công cuộc làm ăn kiếm sống không một phút ngơi nghỉ trong mọi bối cảnh gian khó của bà Tú. Hai câu thơ cũng dựng lại không khí và khung cảnh buôn bán của thành Nam một thời. Thơ thất ngôn bát cú có kết cấu chặt chẽ nhưng nghệ thuật b́nh đối và việc chọn lọc từ ngữ tinh giản đă giúp cho những h́nh ảnh được xây dựng từ đây có sức gợi tả nổi bật. Tài năng của Tú Xương là ở chỗ đă đưa được vào trong thể thơ g̣ bó này rất nhiều chi tiết chân thực và sinh động từ cuộc sống một cách rất tự nhiên. Việc tận dụng một cách triệt để những thế mạnh của thể thơ đă khiến cho mỗi từ ngữ, mỗi h́nh ảnh đều trở nên chói sáng mà nhịp thơ vẫn phát triển hài ḥa, nhịp nhàng. Tinh hoa của một thể thơ phát triển và dân tộc hóa đă gần một ngh́n năm được kết tinh lại trong một con người, trong một bài thơ. Thương vợ chính là dấu nối giữa hai thế kỷ thơ Việt, nối truyền thống với hiện đại.


    Nếu ở hai câu đề và hai câu thực, nhà thơ c̣n đứng ngoài để miêu tả, th́ đến hai câu luận Tú Xương đă nhập thân vào nhân vật để diễn tả một cách chân t́nh nỗi niềm sâu kín của bà Tú. Người chồng đầy t́nh nghĩa này đă phân thân ở nhiều điểm nh́n khác nhau để nh́n cho thấu, cho hết công lao thầm lặng của người vợ:


    Một duyên hai nợ âu đành phận
    Năm nắng mười mưa dám quản công.


    Ông bà lấy nhau đă có tới năm mặt con kể ra cũng là một mối lương duyên “trời” ban. Ông Tú lại lại là người có tài có t́nh. Bà đă từng khen thơ ông “Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài” và đôi lúc cũng được “nở mặt nở mày” với đời v́ ông. Nhung duyên th́ có một mà nợ lại những hai. Niềm cay cú của ông đối với việc thi cử và kéo theo đó là cái nghèo đeo đuổi đă khiến bà phải lăn lộn kiếm sống. Thêm vào đó ông lại là một kẻ khác đời, dở người và những “thói hư, tật xấu” cứ theo đuổi ông suốt cuộc đời. Nói đến “nợ” là nói đến sự đau khổ, xui xẻo phải gánh chịu. Ông Tú tự nhận ḿnh là cái “nợ” của đời bà, ông thương cảm cho bà và tự dằn vặt ḿnh. “Âu” là cam, “đành” cũng là cam, hai lần cam chịu. “Âu đành phận” giống như một cái gật đầu nhẫn nhục chịu đựng, cái nợ đời như một sự tất yếu không thể không chấp nhận. Điều kỳ diệu là người mẹ, người vợ đó không hề ư thức rằng đó là sự hy sinh. Như bao người phụ nữ Việt Nam khác, bà làm mọi việc một cách tự nhiên, nhi nhiên, âm thầm, không hề đ̣i hỏi, oán trách. Dám quản công vừa là thái độ không hề ngần ngại, lại vừa chứa đựng cả cái ư khiêm nhường, không muốn nhắc đến sự khó nhọc của ḿnh. Cách nói cam chịu số phận là cách ông Tú cảm thương thay cho vợ chứ bà đâu có tính đếm công lao của ḿnh. H́nh tượng bà Tú như càng trở nên vị tha, nhân hậu hơn qua mỗi ḍng thơ. Tú Xương cũng rất có tài dùng số từ để làm tăng giá trị của h́nh ảnh, câu chữ. Lúc đầu là số cộng (năm con với một chồng) nhưng số cộng này khá đặc biệt ở chỗ: cộng thêm một cách có lợi cho vợ bằng cách trừ đi (kể ra) những cái vô tích sự của chồng. Cái cộng đó tưởng như là “thừa” ra mà thực chất là thêm vào. Tiếp theo là sự nhân đôi (một duyên hai nợ, năm nắng mười mưa) cũng là những phép toán nhấn mạnh sự thiệt tḥi, vất vả và công lao không thể nói hết bằng lời của bà Tú. Ngôn ngữ lời nói, thành ngữ dân gian được vận dụng linh hoạt, tự nhiên khiến cho những tính toán đó không hề gây ấn tượng là những con số thuần túy.
    Ở sáu câu thơ đầu, Tú Xương đă khắc họa h́nh ảnh người vợ trong vất vả gian lao vẫn sáng ngời những phẩm chất tốt đẹp và đức hy sinh, nhẫn nại thầm lặng của người phụ nữ Việt Nam. Và thấp thoáng đằng sau đó là h́nh ảnh của người chồng với sự cảm thông và trân trọng ân t́nh của vợ. Nhưng phải đến hai câu thơ cuối, h́nh ảnh người chồng mới thực sự hiện ra và vẫn là để nói hộ vợ ḿnh. Nhà thơ đă tự trách ḿnh, tự dằn vặt ḿnh đến nghiệt ngă:


    Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
    Có chồng hờ hững cũng như không.


    Câu thơ buột ra tự nhiên như một tiếng chửi nhưng lại ngậm ngùi như một lời than, vẫn có sắc thái vui đùa chứa đựng ư t́nh sâu sắc, cảm động. Tú Xương mượn lời vợ tự trách ḿnh và qua đó một lần nữa bộc lộ sự cảm thông với hoàn cảnh của bà. Đằng sau tiếng chửi ấy là bi kịch của một con người chất chứa bao phẫn uất, đau xót và tê tái, là nỗi hổ thẹn và t́nh thương yêu vô bờ... Ông tự chửi thói sĩ diện kiểu thầy đồ nghèo ăn bám vợ của ḿnh, thói gia trưởng chỉ biết ngồi than văn sự đời, phó mặc tất cả cho người phụ nữ, thực chất trở thành gánh nặng cho vợ cho con. Rơ ràng ở đây đă thể hiện sự thức nhận của một con người biết vượt lên khỏi cái hạn chế của tầng lớp và thời đại ḿnh để cảm thông với những kiếp người quanh ḿnh. V́ vậy lời chửi ấy không chỉ để dành trách ḿnh mà c̣n để chửi đời, chửi cả cái xă hội lố lăng, giả dối đă sản sinh ra cái thứ chồng hờ hững... Chính cái xă hội thực dân nửa phong kiến ấy đă đẻ ra thói đời bạc bẽo, những kẻ hợm hĩnh sống trên lưng người khác, xă hội ấy đă đẩy một Trần Tế Xương tài hoa xuất chúng vào bước đường cùng, khiến người vợ vốn “ung dung, tính hạnh khoan ḥa”, “con gái nhà ḍng” của ông phải cực khổ, vất vả. Ư nghĩa tố cáo xă hội trở nên nổi bật ở câu kết bài thơ và man mác trong toàn bài, nóng hổi hơi thở thời đại. Lời chửi cuối bài thơ như càng khẳng định thêm t́nh cảm của ông Tú đối với bà Tú. Người chồng ấy tuy ăn bám vợ con nhưng thực chất không hề “ăn ở bạc”, không hề “hờ hững”, mà ngược lại dù bất lực trước hoàn cảnh nhưng vẫn luôn dơi theo, cảm thông, sẻ chia, biết ơn. Thương vợ mà cũng chính là thương hại cho chính bản thân ḿnh. Bài thơ kết thúc thật độc đáo và bất ngờ, vừa thấm đẫm cái bi, cái bất hạnh, lại cay đắng cái hài hước, cái cười nuốt nước mắt vào trong. Bao nhiêu là cung bậc t́nh cảm của cuộc đời hiển hiện trong những câu thơ giản dị, khiêm nhường, tự nhiên ấy.
    Dù vất vả nắng mưa nhưng bà Tú ấy vẫn luôn cảm thấy hạnh phúc v́ được sống giữa t́nh thương yêu, tŕu mến, v́ có một người chồng đầy nhân cách, hiểu ḿnh, cảm thông nỗi vất vả của ḿnh như ông Tú. Bà đă được cả nước biết đến qua bài thơ của ông, trở thành biểu tượng cho sự chắt chiu, chịu khó, hết ḷng v́ chồng con của người phụ nữ Việt Nam. H́nh ảnh bà Tú vất vả, tảo tần với đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, chiếc nón cũ đội đầu, chiếc áo nâu chùng tứ thân bốn mùa không đổi, thoăn thoắt gấp gáp bước đi giữa không gian và thời gian vô định chính là h́nh ảnh của đất nước trong những tháng năm đói nghèo nô lệ.


    (Source: Vũ Thanh - Trường ĐHSP Hà Nội - Số 18 - Tháng 9/2009 )

  3. #3
    Tham gia ngày
    Jun 2012
    Bài gửi
    70
    Cảm ơn
    0
    Được cảm ơn 1 lần trong 1 bài viết


    B̀NH GIẢNG BÀI THƠ THƯƠNG VỢ CỦA TÚ XƯƠNG
    Chúng ta đă từng biết đến một Khuê ai lục của Ngô Th́ Sỹ khóc người vợ yêu qua đời giữa lúc đầu xanh tuổi trẻ, một Đoạn trường lục của Phạm Nguyễn Du thương tiếc người vợ đă khuất, những câu thơ dứt ruột của Tự Đức và trước Tú Xương một chút là câu đối khóc vợ chứa chan t́nh người của Nguyễn Khuyến.

    Chúng ta đă từng biết đến một Khuê ai lục của Ngô Th́ Sỹ khóc người vợ yêu qua đời giữa lúc đầu xanh tuổi trẻ, một Đoạn trường lục của Phạm Nguyễn Du thương tiếc người vợ đă khuất, những câu thơ dứt ruột của Tự Đức và trước Tú Xương một chút là câu đối khóc vợ chứa chan t́nh người của Nguyễn Khuyến. Các nhà thơ trung đại Việt Nam viết về vợ ḿnh không nhiều, mà chủ yếu lại là văn tế và câu đối khóc người đă khuất. Chỉ có một số nhà thơ như Cao Bá Quát, Bùi Hữu Nghĩa, Phạm Văn Nghị là có viết về vợ ḿnh ngay lúc đang sống. Nhưng viết nhiều nhất và hay nhất, mà lại là về một người vợ đang c̣n hiện hữu trên đời th́ có lẽ Trần Tế Xương (1870 - 1907) là tác giả tiêu biểu hơn cả. Và nếu có làm văn tế th́ cũng là Văn tế sống vợ (!),không phải để tiếc thương mà để cười thương ngợi ca người bạn đời của ḿnh.k
    Tú Xương có rất nhiều khác biệt với các tác giả trước ông. Nhà thơ này của làng Vị Xuyên là con người của buổi giao thời, là dấu nối đầy ấn tượng giữa nền văn học trung đại ở giai đoạn cuối chiều nhưng lại kết tinh tinh hoa của hàng ngh́n năm với nền văn học cận hiện đại đang bắt đầu có dấu hiệu h́nh thành với bao điều mới mẻ. Trên đầu Tú Xương không c̣n những áp lực nặng nề của tư tưởng và quan niệm chính thống khắt khe đă quy định các tác giả trước ông, trong ông nhiều giá trị của quá khứ đang từng bước sụp đổ và cái mới th́ chưa kịp tới. Quan niệm của một nhà thơ trào phúng cũng giúp ông tiếp cận cuộc đời theo một kiểu khác, gần hơn, với một kiểu tư duy nghiêng về phân tích, mổ xẻ đối tượng, đưa vào trong thơ nhiều h́nh ảnh sống động hơn, quan niệm thẩm mỹ cũng biến đổi hướng về thực tại. Điều đó tạo cho ông những khoảng không sáng tạo quan trọng, giúp ông khác với truyền thống.

    Thơ Nôm Đường luật đến Tú Xương đă trải qua một thời gian phát triển khá dài, nó liên tục được cách tân từ thời Nguyễn Trăi, và tác giả Thương vợ chính là người đă đem đến cho thể loại văn học đă được Việt hóa cao độ này những phá cách mới mẻ giàu giá trị nghệ thuật. Đây là một bài thơ Nôm, viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật, có kết cấu theo tŕnh tự đề, thực, luận, kết, ông Tú viết để tặng người vợ tảo tần mưa nắng của ḿnh.

    Trần Tế Xương chủ yếu là một nhà thơ trào phúngT, trào phúng chuyên nghiệp. Những bài thơ nghiêng về trữ t́nh như Sông Lấp, Áo bông che bạn, Thương vợ không nhiều, nhưng bài nào cũng xuất chúng. Thương vợ lại tiêu biểu cho sự ḥa hợp giữa hai phẩm chất nghệ thuật nổi bật trong sáng tác của ông: trào phúng và trữ t́nh, trong đó trữ t́nh là chính, là cơ bản. Bà Tú là một đề tài khá quen thuộc trong thơ Tú Xương, h́nh ảnh bà đă đi vào sáng tác của ông trong các bài như: Đau mắt, Văn tế sống vợ, Tự cười ḿnh, Hỏi ḿnh... Thương vợ. Những bài thơ này cho chúng ta thấy, bên cạnh một Tú Xươn trào phúng sắc sảo, ngang ngạnh, tinh quái, khác đời là một Tú Xương khác rất mực đằm thắm, biết tự hạ ḿnh để làm đẹp người khác. Không phải lúc nào con người ấy cũng chế giễu, cười người, cay độc mà nhiều lúc ông vẫn để cho ḷng ḿnh sâu lắng lại và bật ra những bài thơ chứa chan t́nh cảm, giàu sự suy tư, dằn vặt.

    Thương vợ viết về bà Tú nhưng thực ra lại có sự song hành của cả hai h́nh tượng: h́nh tượng bà Tú được thể hiện một cách nổi bật trực tiếp và h́nh tượng ông Tú được khắc hoạ một cách gián tiếp nấp sau người vợ nhưng vẫn khá rơ nét. Thực chất Tú Xương viết thơ để ca ngợi vợ và muốn khắc hoạ h́nh qảnh một ông “chồng thừa” vô trách nhiệm chứ không hề có ư đề cao ḿnh nhưng vô h́nh chung vẫn hiển hiện trong bài thơ một nhân cách cao đẹp của người chồng và từ đó là một quan niệm khác biệt về người vợ so với truyền thống.

    Tú Xương đă giới thiệu vợ ḿnh một cách thân mật, gần gũi, hóm hỉnh nhưng ẩn chứa trong đó bao t́nh cảm và nỗi niềm dằn vặt, xót xa:

    Quanh năm buôn bán ở mom sông

    Câu thơ ngắn gọn đă phản ánh một cách cụ thể, chi tiết không gian, địa điểm và công việc làm ăn của bà Tú. Tên thật của bà là Phạm Thị Mẫn, quê ở Lương Đường, Hải Dương, nhưng sinh tại Nam Định. Bà chuyên buôn bán gạo ở bến sông để nuôi gia đ́nh. Hai từ “quanh năm” nói lên được nỗi vất vả, tần tảo của bà Tú triền miên hết ngày này đến ngày khác, tháng này đến tháng khác, năm này đến năm khác... Ṿng quay của thời gian vô tận đă cuốn bà vào cuộc vật lộn mưu sinh đầy vất vả. Cách tính thời gian như thế vừa nói được nỗi lo toan khó nhọc của bà Tú, lại vừa là cách ông Tú tỏ ḷng biết ơn công lao tần tảo sớm hôm của vợ ḿnh. Biện pháp tăng cấp ư được sử dụng để diễn tả sự vất vả, từ thời gian (quanh năm), nghề nghiệp (buôn thúng bán mẹt), cho đến không gian, địa điểm làm ăn: “mom sông”. Mom sông là một nơi chênh vênh, ba bề là nước, nó gợi lên sự nguy hiểm, bất trắc, vốn không phải là nơi dành để buôn bán b́nh thường. Bởi vậy hơn ai hết, Tú Xương hiểu rơ mục đích của nỗi vất vả đó nơi người vợ:

    Nuôi đủ năm con với một chồng

    Đôi quang gánh cuộc đời trên vai bà Tú thật quá nặng. Một ḿnh bà phải nuôi đến sáu miệng ăn, đó là chưa kể đến chính bản thân ḿnh. Tú Xương không tính bà vào thành phần phải “nuôi đủ” là chính đáng, do bà là người làm ra của cải cưu mang cả gia đ́nh, nhưng cũng là một cách đề cao bà, ngầm xếp bà ra một thứ bậc khác. Đây là cách tính công, đề cao công lao của vợ một cách chi li, rất mực ân t́nh của Tú Xương. Mẹ nuôi con mà không có chồng giúp sức, tuy vất vả nhưng c̣n là chuyện thường t́nh, dẫu sao cũng là thiên chức của người phụ nữ. Điều lạ là cả đến ông Tú bà cũng phải nuôi. Quả thực đây là một sự vô lư, bất công khi gánh nặng gia đ́nh dồn hết lên vai người vợ. Tú Xương đă tách ra làm hai cái gánh nặng ấy: năm con với một chồng, để thấy rơ cái công ơn của bà với gia đ́nh và với riêng ông. Nhưng gánh nặng dường như nghiêng lệch, trĩu nặng hơn về một bên, phía một ḿnh ông chồng vô tích sự nhưng lại đa sự nhiều hơn năm đứa con thơ, khiến câu thơ cũng như oằn hẳn về phía cuối. Cách kể công cho vợ như vậy thật là độc đáo, thật là Tú Xương. Nhà thơ đă tự hạ ḿnh xuống mức thấp hơn cả lũ con, đứng riêng ra một bên, v́ ông là một thứ chồng đặc biệt mà bà Tú phải nuôi riêng. Liên từ “với” nghe thật buồn, thật hài hước, thật hổ thẹn và thảm hại. “Nuôi đủ” ông không chỉ là đảm bảo những nhu cầu như một người b́nh thường mà c̣n là đủ thứ cao sang tốn kém, đủ cả mọi đ̣i hỏi sở thích ăn chơi đàn đúm của ông:

    Biết thuốc lá, biết chè tàu
    Cao lâu biệt vị, hồng lâu biết mùi.

    Nuôi một người ăn chơi phong lưu “ngựa xe chẳng có lúc nào ngơi”, nổi tiếng có “ṇi t́nh”, lại c̣n suốt đời theo đ̣i thi cử công danh như vậy thật khác hẳn với việc nuôi con, và có lẽ c̣n tốn kém hơn cả năm đứa con thơ. Theo quan niệm truyền thống th́ kẻ làm trai phải để chí ở công danh, sự nghiệp, thông qua con đường khoa cử làm quan, c̣n chuyện bếp núc gia đ́nh th́ phó mặc cho người phụ nữ. Đă có biết bao thầy đồ nghèo nhờ vợ tảo tần cơm áo mà thành danh. Xă hội ấy có biết bao “ông quan ăn lương vợ”, biết bao ông chồng ăm bám mà vẫn lên mặt hành hạ vợ con. Thói gia trưởng, sĩ diện khiến cho mấy ai dám hạ ḿnh nói thẳng, nói thật cái hoàn cảnh ăn bám, vô tích sự của ḿnh. Nhưng đă có một Tú Xương đầy dũng cảm dám vất bỏ cái nếp nghĩ cổ hủ đề cao người đàn ông, khinh rẻ người phụ nữ, dám bêu ra trước thiên hạ những kém cỏi, sĩ diện hăo đó để tôn vinh công lao người vợ, để sống thật với những cảm xúc, suy nghĩ của chính ḿnh. Sự khác đời, khác với với truyền thống của nhà thơ chính là ở chỗ đó. Những người khác cho đó là chuyện thường t́nh, chuyện tất yếu, c̣n Tú Xương nhận thức rơ ràng về sự thừa ra, vô lư của ḿnh. Mặc cảm “con người thừa” là mặc cảm của thế hệ Tú Xương, đă rơ nét từ Nguyễn Khuyến (Ghế chéo, lọng xanh ngồi bảnh chọe / Tưởng rằng đồ thật hóa đồ chơi; Nghĩ ḿnh cũng gớm cho ḿnh nhỉ / Thế cũng bia xanh, cũng bảng vàng), nhưng lại càng rơ nét hơn, hiện thực hóa hơn ở nhà thơ thành Nam, ông đă đẩy “con người thừa” thành con người nhỏ bé thảm hại và không ngần ngại phủ định ḿnh, tầm thường hóa bản thân ḿnh ở mức thấp nhất. Trước ông chưa có một nhà thơ nào vượt qua nổi ư thức tự trọng của một nhà nho để bày ra trước mọi người những hạn chế của ḿnh. Nhưng đó dường như không phải chủ đích của ông. Điều ông muốn thể hiện khi dám vất bỏ cái sĩ diện hăo của kẻ “dài lưng tốn vải ăn no lại nằm” chính là xuất phát từ ḷng tri ân với người vợ đă hết ḷng v́ ông, biết đền bù lại bằng cái t́nh, bằng tấm ḷng trân trọng, biết ơn nỗi vất vả mệt nhọc của bà. Nói lên được điều đó đối với một người chồng trong một xă hội coi thường người phụ nữ thật không phải điều dễ dàng. Tấm ḷng ấy thật đáng yêu, đáng trân trọng biết bao! Câu thơ tả thực chất chứa ư vị tự trào mà lại cay đắng, xót xa, cười ra nước mắt.

    Vẻ đẹp của người vợ càng được biểu hiện một cách cụ thể qua những chật vật, bon chen trong cảnh làm ăn vất vả, tội nghiệp hàng ngày:

    Lặn lội thân c̣ khi quăng vắng
    Eo sèo mặt nước buổi đ̣ đông.

    Các nhà nghiên cứu đă nói về việc Tú Xương đă mượn h́nh ảnh con c̣ trong ca dao xưa để nói về nỗi vất vả đơn chiếc và sự chịu thương, chịu khó, hi sinh thầm lặng của bà Tú:

    Con c̣ lặn lội bờ sông
    Gánh gạo nuôi chồng tiếng khóc nỉ non...

    So với ca dao, câu thơ của Tú Xương có nhiều cái mới. Cái mới thứ nhất là việc đưa động từ “lặn lội” lên đầu câu, khiến câu thơ trở nên có sức nặng hơn khi khắc sâu nỗi vất vả đơn chiếc của bà Tú giữa cái rợn ngợp của không gian. Cái mới thứ hai, cũng là sáng tạo mang tính chất thời đại, là sự tiếp tục của chủ nghĩa nhân đạo v́ con người và phát hiện ra con người của văn học thế kỷ XVIII - XIX, khi nhà thơ chuyển từ “con c̣” trong ca dao thành “thân c̣” để chỉ cả một kiếp người, nhấn mạnh đến thân phận người phụ nữ. Chữ “thân” luôn gợi cảm giác nhỏ bé tội nghiệp, bơ vơ chịu đựng. Nữ sĩ Xuân Hương khi xưa đă từng ngậm ngùi viết:

    Thân em vừa trắng lại vừa tṛn
    Bảy nổi ba ch́m với nước non.

    Ở người phụ nữ xưa, “thân” luôn gắn với “phận”, chính v́ vậy mà thi hào Nguyễn Du đă bao lần phải thốt lên:

    Đau đớn thay phận đàn bà

    Và nàng Kiều của ông trong những tháng ngày nhơ nhuốc đă phải tạm cúi đầu chấp nhận số phận:

    Thân lươn bao quản lấm đầu
    Chút ḷng trinh bạch từ sau xin chừa.

    Những vấn đề xă hội về thân phận con người đến Tú Xương đă trở nên gần gũi hơn khi nhà thơ nhận thấy điều đó hiện hữu ngay trong những người thân của ḿnh và ám ảnh trong chính bản thân ḿnh, một kẻ lỡ thời vô tích sự. Điều thứ ba là nếu trong ca dao mới chỉ có cái heo hút của không gian th́ “thân c̣” trong thơ Tú Xương c̣n ở giữa sự rợn ngợp của thời gian. “Khi quăng vắng” khác với “nơi quăng vắng”, “ở quăng vắng”, nó diễn tả được cả cảm giác đơn lẻ đầy hiểm nguy về không gian và nỗi khắc khoải côi cút về thời gian của sự vất vả, tảo tần.
    Ta như thấy đằng sau mỗi câu chữ là ánh mắt lo âu đầy ăn năn tự vấn của người chồng đang dơi theo bóng dáng lẻ loi, lam lũ của người vợ trên con đường gập gềnh sương gió, giữa thời buổi của sự bon chen và t́nh đời bạc bẽo:

    Eo sèo mặt nước buổi đ̣ đông.

    Đó thực sự là cuộc chiến âm thầm và dai dẳng giữa ḱ kèo, đôi co, chen chúc, bất chấp cảnh “đ̣ đầy” để giành giật miếng cơm manh áo cho con, để đổi lại sự thong dong nhàn nhă cho chồng. Chuyến đ̣ đầy gian nan nguy hiểm đó giống như chính cuộc đời đầy vất vả của bà Tú vậy: biết đ̣ đă đầy, chất chứa bao hiểm nguy, văng vẳng bên tai lời mẹ dặn “đ̣ đầy chớ qua” mà vẫn cứ phải dấn thân, phải bước tới, phải vật lộn. Hai từ láy “lặn lội”, rồi “eo sèo” được đảo lên đầu câu càng như nhấn mạnh thêm nỗi cực nhọc, lam lũ trong bươn trải kiếm sống của người phụ nữ này.

    Phải nói rằng, nghệ thuật b́nh đối trong hai câu thực đă góp phần quan trọng vào việc dựng lại chân dung con người cả về thể chất lẫn tinh thần và công cuộc làm ăn kiếm sống không một phút ngơi nghỉ trong mọi bối cảnh gian khó của bà Tú. Hai câu thơ cũng dựng lại không khí và khung cảnh buôn bán của thành Nam một thời. Thơ thất ngôn bát cú có kết cấu chặt chẽ nhưng nghệ thuật b́nh đối và việc chọn lọc từ ngữ tinh giản đă giúp cho những h́nh ảnh được xây dựng từ đây có sức gợi tả nổi bật. Tài năng của Tú Xương là ở chỗ đă đưa được vào trong thể thơ g̣ bó này rất nhiều chi tiết chân thực và sinh động từ cuộc sống một cách rất tự nhiên. Việc tận dụng một cách triệt để những thế mạnh của thể thơ đă khiến cho mỗi từ ngữ, mỗi h́nh ảnh đều trở nên chói sáng mà nhịp thơ vẫn phát triển hài ḥa, nhịp nhàng. Tinh hoa của một thể thơ phát triển và dân tộc hóa đă gần một ngh́n năm được kết tinh lại trong một con người, trong một bài thơ. Thương vợ chính là dấu nối giữa hai thế kỷ thơ Việt, nối truyền thống với hiện đại.

    Nếu ở hai câu đề và hai câu thực, nhà thơ c̣n đứng ngoài để miêu tả, th́ đến hai câu luận Tú Xương đă nhập thân vào nhân vật để diễn tả một cách chân t́nh nỗi niềm sâu kín của bà Tú. Người chồng đầy t́nh nghĩa này đă phân thân ở nhiều điểm nh́n khác nhau để nh́n cho thấu, cho hết công lao thầm lặng của người vợ:

    Một duyên hai nợ âu đành phận
    Năm nắng mười mưa dám quản công.

    Ông bà lấy nhau đă có tới năm mặt con kể ra cũng là một mối lương duyên “trời” ban. Ông Tú lại lại là người có tài có t́nh. Bà đă từng khen thơ ông “Chẳng hay sao lại đỗ ngay tú tài” và đôi lúc cũng được “nở mặt nở mày” với đời v́ ông. Nhung duyên th́ có một mà nợ lại những hai. Niềm cay cú của ông đối với việc thi cử và kéo theo đó là cái nghèo đeo đuổi đă khiến bà phải lăn lộn kiếm sống. Thêm vào đó ông lại là một kẻ khác đời, dở người và những “thói hư, tật xấu” cứ theo đuổi ông suốt cuộc đời. Nói đến “nợ” là nói đến sự đau khổ, xui xẻo phải gánh chịu. Ông Tú tự nhận ḿnh là cái “nợ” của đời bà, ông thương cảm cho bà và tự dằn vặt ḿnh. “Âu” là cam, “đành” cũng là cam, hai lần cam chịu. “Âu đành phận” giống như một cái gật đầu nhẫn nhục chịu đựng, cái nợ đời như một sự tất yếu không thể không chấp nhận. Điều kỳ diệu là người mẹ, người vợ đó không hề ư thức rằng đó là sự hy sinh. Như bao người phụ nữ Việt Nam khác, bà làm mọi việc một cách tự nhiên, nhi nhiên, âm thầm, không hề đ̣i hỏi, oán trách. Dám quản công vừa là thái độ không hề ngần ngại, lại vừa chứa đựng cả cái ư khiêm nhường, không muốn nhắc đến sự khó nhọc của ḿnh. Cách nói cam chịu số phận là cách ông Tú cảm thương thay cho vợ chứ bà đâu có tính đếm công lao của ḿnh. H́nh tượng bà Tú như càng trở nên vị tha, nhân hậu hơn qua mỗi ḍng thơ. Tú Xương cũng rất có tài dùng số từ để làm tăng giá trị của h́nh ảnh, câu chữ. Lúc đầu là số cộng (năm con với một chồng) nhưng số cộng này khá đặc biệt ở chỗ: cộng thêm một cách có lợi cho vợ bằng cách trừ đi (kể ra) những cái vô tích sự của chồng. Cái cộng đó tưởng như là “thừa” ra mà thực chất là thêm vào. Tiếp theo là sự nhân đôi (một duyên hai nợ, năm nắng mười mưa) cũng là những phép toán nhấn mạnh sự thiệt tḥi, vất vả và công lao không thể nói hết bằng lời của bà Tú. Ngôn ngữ lời nói, thành ngữ dân gian được vận dụng linh hoạt, tự nhiên khiến cho những tính toán đó không hề gây ấn tượng là những con số thuần túy.

    Ở sáu câu thơ đầu, Tú Xương đă khắc họa h́nh ảnh người vợ trong vất vả gian lao vẫn sáng ngời những phẩm chất tốt đẹp và đức hy sinh, nhẫn nại thầm lặng của người phụ nữ Việt Nam. Và thấp thoáng đằng sau đó là h́nh ảnh của người chồng với sự cảm thông và trân trọng ân t́nh của vợ. Nhưng phải đến hai câu thơ cuối, h́nh ảnh người chồng mới thực sự hiện ra và vẫn là để nói hộ vợ ḿnh. Nhà thơ đă tự trách ḿnh, tự dằn vặt ḿnh đến nghiệt ngă:

    Cha mẹ thói đời ăn ở bạc
    Có chồng hờ hững cũng như không.

    Câu thơ buột ra tự nhiên như một tiếng chửi nhưng lại ngậm ngùi như một lời than, vẫn có sắc thái vui đùa chứa đựng ư t́nh sâu sắc, cảm động. Tú Xương mượn lời vợ tự trách ḿnh và qua đó một lần nữa bộc lộ sự cảm thông với hoàn cảnh của bà. Đằng sau tiếng chửi ấy là bi kịch của một con người chất chứa bao phẫn uất, đau xót và tê tái, là nỗi hổ thẹn và t́nh thương yêu vô bờ... Ông tự chửi thói sĩ diện kiểu thầy đồ nghèo ăn bám vợ của ḿnh, thói gia trưởng chỉ biết ngồi than văn sự đời, phó mặc tất cả cho người phụ nữ, thực chất trở thành gánh nặng cho vợ cho con. Rơ ràng ở đây đă thể hiện sự thức nhận của một con người biết vượt lên khỏi cái hạn chế của tầng lớp và thời đại ḿnh để cảm thông với những kiếp người quanh ḿnh. V́ vậy lời chửi ấy không chỉ để dành trách ḿnh mà c̣n để chửi đời, chửi cả cái xă hội lố lăng, giả dối đă sản sinh ra cái thứ chồng hờ hững... Chính cái xă hội thực dân nửa phong kiến ấy đă đẻ ra thói đời bạc bẽo, những kẻ hợm hĩnh sống trên lưng người khác, xă hội ấy đă đẩy một Trần Tế Xương tài hoa xuất chúng vào bước đường cùng, khiến người vợ vốn “ung dung, tính hạnh khoan ḥa”, “con gái nhà ḍng” của ông phải cực khổ, vất vả. Ư nghĩa tố cáo xă hội trở nên nổi bật ở câu kết bài thơ và man mác trong toàn bài, nóng hổi hơi thở thời đại. Lời chửi cuối bài thơ như càng khẳng định thêm t́nh cảm của ông Tú đối với bà Tú. Người chồng ấy tuy ăn bám vợ con nhưng thực chất không hề “ăn ở bạc”, không hề “hờ hững”, mà ngược lại dù bất lực trước hoàn cảnh nhưng vẫn luôn dơi theo, cảm thông, sẻ chia, biết ơn. Thương vợ mà cũng chính là thương hại cho chính bản thân ḿnh. Bài thơ kết thúc thật độc đáo và bất ngờ, vừa thấm đẫm cái bi, cái bất hạnh, lại cay đắng cái hài hước, cái cười nuốt nước mắt vào trong. Bao nhiêu là cung bậc t́nh cảm của cuộc đời hiển hiện trong những câu thơ giản dị, khiêm nhường, tự nhiên ấy.

    Dù vất vả nắng mưa nhưng bà Tú ấy vẫn luôn cảm thấy hạnh phúc v́ được sống giữa t́nh thương yêu, tŕu mến, v́ có một người chồng đầy nhân cách, hiểu ḿnh, cảm thông nỗi vất vả của ḿnh như ông Tú. Bà đă được cả nước biết đến qua bài thơ của ông, trở thành biểu tượng cho sự chắt chiu, chịu khó, hết ḷng v́ chồng con của người phụ nữ Việt Nam. H́nh ảnh bà Tú vất vả, tảo tần với đôi quang gánh trĩu nặng trên vai, chiếc nón cũ đội đầu, chiếc áo nâu chùng tứ thân bốn mùa không đổi, thoăn thoắt gấp gáp bước đi giữa không gian và thời gian vô định chính là h́nh ảnh của đất nước trong những tháng năm đói nghèo nô lệ.


Từ khóa cho bài viết này

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của ḿnh
  •