Kết quả 1 đến 2 của 2
  1. #1
    butchimau's Avatar Biên tập viên
    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    1,752

    Đọc hiểu đoạn trích "Hồi trống Cổ Thành" LA QUÁN TRUNG (Trích hồi 28 “Tam quốc diễn nghĩa”)

    HỒI TRỐNG CỔ THÀNH
    LA QUÁN TRUNG
    (Trích hồi 28 “Tam quốc diễn nghĩa”)


    1. Thể loại

    Tam quốc diễn nghĩa thuộc loại tiểu thuyết chương hồi, có nguồn gốc từ Trung Quốc xa xưa – dựa trên đề cương, bản ghi chép để nghệ nhân dân gian dựa vào đó kể chuyện.

    2. Tác giả

    La Quán Trung (1330 ?- 1400 ?) là nhà văn Trung Quốc, tên là La Bản, tự Quán Trung, hiệu Hồ Hải tản nhân, người Thái Nguyên, tỉnh Sơn Tây, sống vào khoảng cuối Nguyên đầu Minh. Ông là người có nguyện vọng phò vua giúp nước, nhưng bất đắc chí, bôn tẩu phiêu bạt khắp nơi, tính tình cô độc lẻ loi. Có tài liệu nói ông từng làm mưu sĩ của Trương Sĩ Thành, một người khởi nghĩa chống Nguyên. Khi Minh Thái Tổ thống nhất Trung Quốc, ông chuyển sang biên soạn dã sử. Tam quốc diễn nghĩa có lẽ được ông viết vào lúc này. Ngoài Tam quốc diễn nghĩa, ông còn viết Tuỳ Đường lưỡng triều chí truyện, Tấn Đường ngũ đại sử diễn nghĩa, Bình yêu truyện và vở tạp kịch Tống Thái Tổ long hổ phong vân hội.

    Với tác phẩm của mình  đặc biệt là Tam quốc diễn nghĩa, La Quán Trung trở thành người mở đường cho tiểu thuyết lịch sử Trung Hoa.

    3. Tác phẩm

    Tam quốc diễn nghĩa là tiểu thuyết lịch sử viết theo kiểu chương hồi của nhà văn La Quán Trung. Tác giả dựa vào sử sách, vào truyền thuyết và truyện dân gian, kết hợp với tài năng sáng tạo của mình để hoàn thành tác phẩm. Tam quốc có nhiều bản ; bản 120 hồi lưu hành rộng rãi cho đến ngày nay là do cha con nhà phê bình Mao Tôn Cương đời Thanh chỉnh lí. Tam quốc kể về quá trình hình thành, phát triển, diệt vong của ba tập đoàn phong kiến chủ yếu thời Tam quốc là Tào Nguỵ, Lưu Thục và Tôn Ngô trong thời gian 97 năm, từ 184  năm các tập đoàn phong kiến hợp sức tiêu diệt khởi nghĩa nông dân "Khăn vàng"  đến 280, nhà Tấn thống nhất Trung Quốc. Vào thời Linh Đế nhà Hán, vương triều thối nát, kỉ cương rối bời. Bên ngoài, khởi nghĩa nông dân "Khăn vàng" nổi lên, tập hợp tới ba mươi vạn người tham gia. Bên trong, triều đình hỗn loạn, bè đảng xâu xé, chém giết lẫn nhau. Ngoại thích Hà Tiến cho vời Đổng Trác ở Lũng Tây đưa quân vào Kinh đô để chống lại hoạn quan. Hoạn quan bị diệt, song Đổng Trác lại thao túng triều đình, bỏ vua cũ lập vua mới. Lấy cớ bảo vệ nhà Hán, quân phiệt các nơi chiêu binh mãi mã, tập hợp lực lượng. Một mặt họ hợp sức tiêu diệt khởi nghĩa "Khăn vàng", mặt khác lăm le kéo quân vào kinh đô để trừ loạn trong triều. Bắc có Lưu Biểu, Viên Thuật, Viên Thiệu, Tào Tháo ; Nam có Tôn Sách, Tôn Quyền ; Tây có Lưu Bị. Dần dà Tào Tháo thôn tính xong các tập đoàn phương Bắc, làm chủ Trung Nguyên. Năm 208, Tào Tháo kéo quân về Nam định thôn tính Tôn Ngô, thống nhất Trung Quốc nhưng Tôn Quyền đã phối hợp với Lưu Bị đánh tan Tào Tháo ở Xích Bích. Từ đó hình thành thế chân vạc : Nguỵ, Thục, Ngô. Cũng từ đó diễn ra cuộc chiến tranh khi căng thẳng, khi ôn hoà giữa ba tập đoàn phong kiến về quân sự, chính trị và ngoại giao. Phía Tào Nguỵ nắm được vua nhà Hán, uy thế ngày một lớn, cất quân đánh Tôn Ngô mấy lần nhưng không thành, lại đánh nhau với Lưu Thục, nhưng sự nghiệp dở dang thì Tào Tháo ốm chết. Con thứ là Tào Phi phế Hán lập Nguỵ. Quyền bính dần dần rơi vào tay Thừa tướng Tư Mã Ý. Phía Lưu Thục, từ sau trận Xích Bích, mới mượn được đất Kinh Châu của Tôn Ngô rồi dần dần lấy được một số quận huyện khác. Nhờ các võ tướng Quan Công, Trương Phi, Triệu Vân và các mưu sĩ Khổng Minh, Bàng Thống giúp nên đất đai ngày một mở rộng, thế lực ngày một phát triển. Khi Quan Công bị Tôn Ngô bắt giết, Lưu Bị cất quân báo thù nhưng việc chưa thành thì ốm chết. Con là Lưu Thiện kế vị. Khổng Minh phụ chính, bảy lần cất quân thu phục Mạnh Hoạch, một tù trưởng ở Tây nam và sáu lần ra Kì Sơn chặn đứng thế nam tiến của quân Nguỵ. Sau khi Khổng Minh chết, Lưu Thục dần suy. Văn có Tưởng Uyển rồi Phí Vĩ, võ có Khương Duy, nhưng chủ trương không thống nhất. Năm 263, quân Nguỵ tràn xuống thì Lưu Thiện đầu hàng. Phía Đông Ngô nhờ địa thế hiểm trở nên Tôn Kiên rồi con là Tôn Sách và em Sách là Tôn Quyền kế tiếp nhau làm vua. Văn có Gia Cát Cẩn, Lỗ Túc ; võ có Chu Du, Lục Tốn,… phù trợ. Sau khi Tôn Quyền chết, nội bộ lục đục mãi. Đến 279, Tư Mã Viêm (cháu Tư Mã Ý) đem đại quân xuống thì Tôn Hạo đầu hàng. Tư Mã Viêm lập ra nhà Tấn (208), chấm dứt thế chân vạc và thống nhất Trung Quốc (Theo Từ điển văn học, NXB Thế giới, 2004).

    4. Tóm tắt

    Đoạn trích Hồi trống Cổ Thành thuộc hồi 28. Quan Công đưa hai chị sang Nhữ Nam. Kéo quân đến Cổ Thành thì nghe nói Trương Phi đang ở đó. Quan Công mừng rỡ sai Tôn Càn vào thành báo Trương Phi ra đón hai chị.

    Trương Phi khi ấy đang tức giận, nghe tin báo liền sai quân lính mở cổng thành, rồi một mình một ngựa vác bát xà mâu lao đến đòi giết Quan Công. Quan Công bị bất ngờ nhưng rất may tránh kịp nên không mất mạng. Đang nóng giận, Trương Phi nhất quyết không chịu ghi nhận lòng trung của Quan Công dù cả hai vị phu nhân đã hết lời thanh minh sự thật.

    Giữa lúc đang bối rối thì đột nhiên ở đằng xa, Sái Dương mang Quân Tào đuổi tới. Trương Phi càng thêm tức giận, buộc Vân Trường phải lấy đầu ngay tên tướng đó để chứng thực lòng trung. Quan Công không nói một lời, múa long đao xô lại. Chưa đứt một hồi trống giục, đầu Sái Dương đã lăn dưới đất. Bấy giờ, Phi mới tin anh là thực. Phi mời hai chị vào thành rồi cúi đầu sụp lạy xin lỗi Quan Công.

    5. Đọc hiểu

    Bên cạnh kho tàng văn học dân gian rất đồ sộ với tác phẩm Kinh Thi nổi tiếng, nhân dân Trung Quốc còn rất tự hào với hai đỉnh cao chói lọi là thơ Đường và tiểu thuyết Minh – Thanh. Văn học Minh  Thanh là giai đoạn phát triển cuối cùng của văn học cổ điển Trung Quốc. Đây là thời kì nền văn học Trung Quốc khá đa dạng, phong phú và đạt nhiều thành công về mặt nghệ thuật. Trong đó có sự lên ngôi đầy vẻ vang của tiểu thuyết. Tiểu thuyết cổ điển Trung Quốc là một loại truyện dài, được kể thành chương hồi và theo trật tự trước sau của sự việc. Khái niệm tiểu thuyết trong văn học Minh Thanh khác với tiểu thuyết hiện đại sử dụng ngày nay. Có thể kể đến những đỉnh cao tiêu biểu của tiểu thuyết Minh  Thanh đã rất quen thuộc với chúng ta ngày nay như Tây du kí, Nho lâm ngoại sử, Thuỷ hử truyện, Tam quốc diễn nghĩa, Hồng lâu mộng… Trong đó, Tam quốc diễn nghĩa là tác phẩm phản ánh một thời kì dài và đầy biến động của lịch sử Trung Quốc, đó là thời Tam quốc. La Quán Trung viết tác phẩm này dựa trên ba nguồn tư liệu chính là sử liệu (cuốn sử biên niên Tam quốc chí của Trần Thọ đời Tấn và cuốn Tam quốc chí của Bùi Tùng Chi người Nam Bắc triều) ; dã sử, truyền thuyết trong dân gian ; tạp kịch, thoại bản đời Nguyên (cuốn Tam quốc chí bình thoại). Vì thế tác phẩm vừa là một thiên sử kí, vừa là một tác phẩm văn học có giá trị nghệ thuật.

    Qua việc kể lại những câu chuyện về cuộc chiến tranh cát cứ giữa ba tập đoàn phong kiến Nguỵ, Thục, Ngô, bằng nhãn quan chính trị của mình, La Quán Trung đã bày tỏ khát vọng về một xã hội công bằng, ổn định với vua hiền tướng giỏi, nhân dân ấm no. Mặc dù, lấy đề tài từ những câu chuyện lịch sử đã lùi sâu vào quá khứ nhưng tác giả đã khắc hoạ một thế giới nhân vật sinh động trong những mối quan hệ rất chặt chẽ, với đủ những nét tính cách khác nhau. Không một nhân vật nào trùng lặp nhân vật nào trong thế giới hàng nghìn nhân vật ấy. Đoạn trích Hồi trống Cổ Thành đã phần nào bộc lộ một trong những nét tính cách tiêu biểu của hai nhân vật xuất hiện khá nhiều trong tác phẩm là Quan Vân Trường và Trương Phi. Đoạn trích rất ngắn so với sự đồ sộ của tác phẩm nhưng cũng đã thể hiện được một đặc trưng bút pháp nghệ thuật của La Quán Trung cũng như đặc điểm chung của tiểu thuyết cổ điển Minh – Thanh.

    Đoạn trích Hồi trống Cổ Thành có kết cấu hoàn chỉnh và đầy kịch tính. Đây là một đặc điểm trong nghệ thuật trần thuật của tiểu thuyết cổ điển, mỗi chương hồi thường là một câu chuyện có giới thiệu, mở mối, mở nút và thắt nút như kết cấu một vở kịch. Sau khi giới thiệu nhân vật và sự việc thì mở ra mâu thuẫn, rồi mâu thuẫn được đẩy lên đỉnh điểm rồi được giải quyết bằng một hành động nào đó. Trong đoạn Hồi trống Cổ Thành, mở đầu tác giả giới thiệu việc Quan Công đang trên đường tìm về Nhữ Nam gặp Lưu Bị, ngang qua Cổ Thành biết được Trương Phi ở đó bèn đưa hai chị dâu vào. Đồng thời tác giả cũng giới thiệu cảnh ngộ của Trương Phi. Mâu thuẫn bắt đầu khi Trương Phi nghe tin Quan Công đến, vác xà mâu, lao ngựa ra đánh Quan Công, và được đẩy lên cao hơn khi quân mã Sái Dương xuất hiện. Là câu chuyện đậm màu chiến trận nên mọi mâu thuẫn giữa các nhân vật đều được giải quyết bằng hành động. Mâu thuẫn giữa Quan Công và Trương Phi xuất phát từ sự hiểu lầm của Trương Phi nhưng cũng được giải quyết bằng hành động. Hành động chém đầu tướng giặc. Mâu thuẫn chỉ được giải quyết khi đầu Sái Dương rơi xuống đất, còn mọi lời giải thích đều không có ý nghĩa gì. Về mặt nội dung, đoạn trích là một câu chuyện hoàn chỉnh, đặc điểm này giúp cho việc nắm bắt nội dung dễ dàng hơn. Mỗi hồi của tiểu thuyết chương hồi thường giải quyết hoàn chỉnh một mâu thuẫn hoặc hoàn thành diễn biến một sự kiện, đồng thời lại mở ra một câu chuyện mới tạo nên phần nối kết với hồi sau. Vì thế kết thúc mỗi hồi bao giờ cũng có câu : "muốn biết sự việc thế nào xem hồi sau sẽ rõ". Mỗi hồi đều được kết thúc khi mâu thuẫn đang ở cao trào là một kiểu tạo sức hấp dẫn của nghệ thuật kể chuyện trong tiểu thuyết cổ điển.

    Vốn là những truyện kể dân gian được sưu tầm và ghi chép lại nên phương thức trần thuật của Tam quốc diễn nghĩa mang đặc điểm truyện kể rất rõ. Truyện được kể theo trật tự thời gian trước sau của sự việc. Nếu sự việc xảy ra đồng thời hoặc muốn chuyển từ nhân vật này sang nhân vật khác thì dùng từ chuyển "lại nói". Truyện kể ít quan tâm đến diễn biến tâm lí và suy nghĩ nội tâm của nhân vật. Tính cách nhân vật được bộc lộ qua hành động và cử chỉ. Tác giả ít xen vào lời giới thiệu hoặc bình luận. Nếu bình luận một trận đánh hoặc một sự việc, hành động nào đó của nhân vật thì tác giả trích một bài thơ, một bài vịnh nào đó của người đời sau. Và tên mỗi chương bao giờ cũng là câu văn đối ngẫu tóm tắt sự việc chính xảy ra trong hồi đó. Nội dung của câu chuyện Hồi trống Cổ Thành được tóm tắt trong câu : "Chém Sái Dương anh em hoà giải ; Hồi Cổ Thành tôi chúa đoàn viên". Đoạn trích này đã thể hiện khá rõ những đặc sắc nghệ thuật trần thuật và nghệ thuật xây dựng nhân vật của Tam quốc diễn nghĩa. Những nét tính cách không thường nổi bật trong tác phẩm của hai nhân vật Quan Công và Trương Phi đã được thể hiện trong đoạn trích. Quan Công vốn rất tự phụ, ít khi nhún nhường ai, nhưng trong trường hợp đặc biệt này, trước cơn giận của Trương Phi, lại rất nhũn nhặn, mềm mỏng. Ở đây hiện lên một Quan Công oai hùng trong tư thế chém đầu tướng giặc nhưng cũng lại là một người anh chín chắn, đúng mực. Còn Trương Phi tính tình vốn xốc nổi, đơn giản nhưng mối nghi ngờ đã làm cho vị anh hùng này thận trọng hơn. Đó là những nét tính cách khác tạo nên sự đa chiều trong nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật của tác giả. Dù thế nào thì mỗi nhân vật của Tam quốc diễn nghĩa vẫn có một tính cách đặc trưng rất cá tính, không thể trộn lẫn vào đâu được. Đoạn trích này ca ngợi tài năng phi thường của Quan Công, lòng dạ thẳng ngay của Trương Phi và trên hết là lòng trung nghĩa sắt son của cả hai người.

    Trương Phi nổi tiếng là người ngay thẳng, nóng nảy và trung thực. Nên mọi lí lẽ với Trương Phi đều không có sức thuyết phục. Người như Trương Phi không bao giờ chấp nhận và cũng khó có thể hiểu được những uẩn khúc trong việc Quan Công về ở với Tào Tháo. Vì thế khi nghe tin Quan Công đến Cổ Thành, Trương Phi đã phản ứng rất quyết liệt : "Phi nghe xong, chẳng nói chẳng rằng, lập tức mặc áo giáp, vác mâu lên ngựa…". Nhìn thấy Quan Công thì không thèm nói một lời, "Trương Phi mắt trợn tròn xoe, râu hùm vểnh ngược, hò hét như sấm, múa xà mâu chạy lại đâm Quan Công". Không có lời bình luận, không miêu tả tâm lí nhân vật nhưng tính nóng nảy và sự tức giận của Trương Phi được thể hiện rất rõ qua hành động, nét mặt, lời nói. Phản ứng của Trương Phi thể hiện tính trung thực, yêu ghét rõ ràng. Lời thanh minh của Quan Công, lời giải thích của Cam phu nhân, Mi phu nhân đều chỉ như dầu đổ vào lửa. Trương Phi không thích nghe lí lẽ, chỉ tin vào những điều mắt trông thấy. Cơn giận đang ngùn ngụt lại trông thấy quân mã kéo tới. Cơn giận của Trương Phi được đẩy lên đỉnh điểm "múa bát xà mâu hăm hở xông lại đâm Quan Công". Nhân vật của tiểu thuyết cổ điển tuy có tính cách rất rõ nét nhưng vẫn mang tính ước lệ của văn học trung đại. Vì vậy, hành động của nhân vật bao giờ cũng minh hoạ cho tính cách và tư tưởng giai cấp chứ không nhất thiết tuân theo lôgic tâm lí. Tình nghĩa anh em thuở hàn vi sẽ chẳng có ý nghĩa gì nếu ai đó bị nghi ngờ là phản bội. Chỉ có lí tưởng trung nghĩa là nguyên tắc ứng xử duy nhất. Và mọi mâu thuẫn chỉ được giải quyết trên cơ sở lợi ích cộng đồng. Anh em Quan, Trương đoàn tụ khi đầu Sái Dương rơi xuống đất. Trương Phi thẳng tay đánh trống giục giã Quan Vũ và "rỏ nước mắt thụp lạy Vân Trường" khi nỗi nghi ngờ được giải toả. Việc Trương Phi buộc Quan Công phải chém đầu Sái Dương trong ba hồi trống thể hiện một thái độ dứt khoát và cương quyết, đây cũng là chi tiết đậm màu sắc Tam quốc nhất. Trương Phi biết rõ tài năng của Quan Công, Quan Công từng chém rơi đầu Hoa Hùng, một viên tướng giỏi và trở về doanh trại mà chén rượu vẫn còn nóng. Việc Quan Công chém được Sái Dương không phải là việc khó nhưng lại rất có ý nghĩa bởi đó là cách duy nhất để Quan Công minh oan. Sự minh oan cũng không mấy khó khăn nhưng nó thể hiện thái độ dứt khoát và trắng đen rõ ràng của Trương Phi. Tác giả đã tạo nên một tình huống rất đặc sắc để vừa ngợi ca tình cảm anh em gắn bó nghĩa tình của Lưu, Quan, Trương vừa bộc lộ rõ tính cách thẳng ngay của Trương Phi và đức độ của Quan Công.

    Trương Phi và Quan Công là những tướng tài của nhà Thục, tiêu biểu cho nhà Thục. Lưu Bị và nhà Thục là nơi tác giả gửi gắm ước mơ của quần chúng nhân dân về một ông vua hiền, một triều đình chính nghĩa và nhân đạo.

    Với lối kể chuyện dân gian, đơn giản hoá tình tiết trong sự đa dạng của sự kiện, Tam quốc diễn nghĩa đã đạt đến chuẩn mực của nghệ thuật kể chuyện. Tam quốc diễn nghĩa là tiểu thuyết cổ điển tiêu biểu ở cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật. Thành công của tác phẩm không chỉ bởi giá trị lớn của tác phẩm về quân sự, lịch sử và về đạo đức mà còn bởi thế giới nhân vật được xây dựng rất thành công. Những nhân vật tiêu biểu của Tam quốc diễn nghĩa đã trở nên rất quen thuộc đối với văn hoá và người đọc phương Đông. Không đi sâu khai thác tính cách bằng diễn biến tâm lí nhân vật như tiểu thuyết hiện đại mà xây dựng tính cách nhân vật bằng những hành động, cử chỉ có ý nghĩa khái quát, La Quán Trung vẫn xây dựng được một thế giới nhân vật đa dạng có khả năng bao quát và tái hiện sinh động một thời kì lịch sử dài gần một trăm năm với rất nhiều biến động. Qua đây tác giả đã gửi gắm những suy nghĩ và thể hiện cái nhìn của mình về xã hội Minh Thanh. Chỉ với một đoạn trích Hồi trống Cổ Thành nhưng hai nhân vật Quan Công và Trương Phi đã nổi lên vẻ đẹp sáng ngời về lòng nhân nghĩa, sự trung thực và chân thành của tình anh em, tôi chúa. Là tiểu thuyết khai thác đề tài trận mạc nhưng Tam quốc đã để lại rất nhiều những câu chuyện giáo dục nghĩa tình, giáo dục lối sống, lối ứng xử theo tiêu chuẩn Nhân, Lễ, Nghĩa, Trí, Tín của người quân tử phương Đông.

    * Lời bình hồi 28 Tam quốc diễn nghĩa của Mao Luân (cha) và Mao Tôn Cương (con) :

    "Người đời chỉ biết Vân Trường hàng Hán, không hàng Tào, thì khen là tiết tháo, nhưng không biết Dực Đức còn tiết tháo hơn.... Bởi vì có vua tôi rồi mới có anh em, nghĩa vua tôi đã đơn sai thì tình anh em cũng đoạn tuyệt. Đã lấy sự công phẫn ghi trong tờ phiếu gài ở đai áo làm trọng, thì cũng phải lấy lời thề chỗ vườn đào làm khinh. Suy cái nghĩa ấy mà xem, nếu Dực Đức ở vào cảnh bị vây ở núi Thổ Sơn thì quyết dấn mình vào lưỡi gươm giáo mà chết chứ không khi nào chịu tòng quyền cơ biến mà ăn cạnh nằm kề với tên giặc họ Tào.

    Dực Đức bình sinh rất ghét Lã Bố, coi là kẻ diệt luân tuyệt lí, cho nên hễ trông thấy mặt là chửi thằng đi ở ba họ. Đối với Tào Tháo cũng ghét và giận như vậy. Ghét Lã Bố vì không biết đạo cha con, ghét Tào Tháo vì không trọng đạo vua tôi. Coi vậy, Dực Đức thật đáng khen là bậc hiếu tử và trung thần.

    Dực Đức đánh mất Từ Châu mà bị Vân Trường trách mắng. Vân Trường ở nhờ Hứa Đô mà bị Dực Đức trách mắng, có đem nghĩa lớn trách mắng nhau như vậy mới là anh em thật tình".
    (Nguyễn Xuân Lâm dịch, Trích Tam quốc chí diễn nghĩa, Tân Dân xuất bản, 1931)


    (Nguồn: Đọc hiểu Ngữ văn 10, NXB GD, 2006)
    Xem thêm bài khác

  2. #2
    butchimau's Avatar Biên tập viên
    Ngày tham gia
    May 2012
    Bài viết
    1,752
    TÀO THÁO UỐNG RƯỢU LUẬN ANH HÙNG
    LA QUÁN TRUNG
    (Trích hồi 21 “Tam quốc diễn nghĩa”)


    1. Tác phẩm

    Đoạn trích thuộc hồi 21 trong tác phẩm Tam quốc diễn nghĩa của La Quán Trung. Anh em Lưu, Quan, Trương lúc này mới khởi nghiệp, chưa có đất dung thân và dựng nghiệp nên phải sang nương nhờ Tào Tháo. Tào Tháo là một người có tài nhưng chủ quan và đa nghi. Tào Tháo biết chí lớn của ba anh em Lưu Bị nên tìm cách mua chuộc, hòng thu nạp người tài, củng cố sức mạnh, đồng thời dẹp được mầm hoạ. Nội dung đoạn trích xoay quanh cuộc bàn luận về anh hùng giữa Tào Tháo và Lưu Bị, qua đó phần nào thể hiện những nét tính cách tiêu biểu của Tào Tháo và Lưu Bị, hai người anh hùng với hai tính cách trái ngược nhau.

    Đoạn trích có kết cấu hoàn chỉnh như một vở kịch, có thắt nút, cao trào và mở nút. Qua hai nhân vật Tào Tháo và Lưu Bị, đoạn trích cũng thể hiện được những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng nhân vật của La Quán Trung. Nội dung tư tưởng được thể hiện ở cách gọi tên nhân vật, ngôn ngữ, cử chỉ, quan niệm về người anh hùng…

    2. Tóm tắt

    Huyền Đức có mưu đồ lớn nhưng chưa gặp thời, lại sợ Tào Tháo nghi ngờ bèn trồng một vườn rau ở sau nhà, hằng ngày vun xới.

    Một hôm, Tào Tháo cho người mời Huyền Đức vào tiếp kiến nhằm thăm dò ý tứ. Tháo bày tiệc rượu ở tiểu đình, vừa ăn uống vừa nói chuyện vui vẻ. Lúc ngà ngà say, lại có mây đen mù mịt, cơn mưa to sắp đến, Tào Tháo bèn chuyển sang hỏi Huyền Đức về chuyện anh hùng trong thiên hạ. Lưu Bị muốn từ chối nhưng không được, bèn kể ra tất cả những bậc anh tài thời nay mà mình từng biết. Thế nhưng chẳng ngờ Tào Tháo gạt bay đi tất cả. Đang lúng túng chưa biết nói sao thì đột nhiên Tào Tháo lấy tay trỏ vào Huyền Đức và nói: "Anh hùng thiên hạ bây giờ chỉ có sứ quân và Tháo mà thôi". Huyền Đức nghe nói, giật mình rơi hết thìa đũa trong tay. Cũng may, đúng lúc ấy, tiếng sấm ầm vang. Huyền Đức nhanh trí viện chuyện sấm chớp để che đậy chuyện giật mình. Tào Tháo thấy thế không nghi ngờ gì Huyền Đức nữa.

    3.Đọc hiểu

    Khi bình về Tam quốc diễn nghĩa, các nhà phê bình văn học Trung Quốc đã đưa ra bộ "tam tuyệt", ba đỉnh cao mẫu mực về tính cách : Tào Tháo tuyệt gian, Khổng Minh tuyệt trí, Quan Công tuyệt nghĩa. Họ đều là những người có tài, là những bậc anh hùng của Tam quốc, Tào Tháo là gian hùng, Quan Công, Khổng Minh là anh hùng. Khi san định lại Tam quốc diễn nghĩa, với nhãn quan chính trị của nhân dân lao động, nhà văn La Quán Trung đã có cách nhìn thiên vị đối với nhà Thục. Vì thế, Lưu Bị đại đức, tình nghĩa bao nhiêu thì Tào Tháo lại gian xảo, đa nghi bấy nhiêu. Thái độ của nhà văn đối với hai nhân vật được thể hiện ngay trong cách gọi tên hai nhân vật. Với Tào Tháo, chỉ một lần tác giả gọi đủ tính danh là Tào Tháo, còn lại chỉ gọi là Tháo, còn Lưu Bị tác giả đều gọi tên chữ là Huyền Đức một cách trân trọng và thiện cảm. Cách gọi tên ấy đã thể hiện thái độ của nhà văn đối với nhân vật. Thái độ ấy được thể hiện rõ hơn trong cuộc đấu trí giữa hai nhân vật này.

    Với cách bố trí các chi tiết khéo léo và kịch tính, đoạn trích Tào Tháo uống rượu luận anh hùng đã thể hiện được những nét tiêu biểu trong tính cách của hai nhân vật chính của tiểu thuyết Tam quốc diễn nghĩa. Đoạn trích cũng đã thể hiện những nét tiêu biểu trong nghệ thuật kể chuyện của Tam quốc diễn nghĩa. Đó là nghệ thuật tạo và dẫn dắt tình huống truyện vừa kịch tính vừa rất lôgíc. Các chi tiết nối tiếp nhau một cách rất tự nhiên và tính cách nhân vật lần lượt được bộc lộ.

    Người chủ động lập cuộc rượu để bàn luận về anh hùng là Tào Tháo, Huyền Đức hoàn toàn bất ngờ. Do chưa có đất dựng nghiệp, anh em Lưu, Quan, Trương phải đến ở nhờ Tào Tháo để chờ cơ hội và chuẩn bị lực lượng. So với Tào Tháo, lúc này Lưu Bị hoàn toàn yếu thế, vì vậy giống như con rồng ẩn mình, để che mắt Tào Tháo, Lưu Bị phải ngày ngày giả vờ mải mê với chuyện vun xới, trồng rau. Mâu thuẫn và kịch tính của đoạn trích bắt đầu từ đây. Vì muốn ẩn giấu ý định của mình, lại biết Tào Tháo vốn tính đa nghi, nên khi người của Tào Tháo đến mời Lưu Bị đã "giật mình… sợ tái mặt". Và nhất là khi Tào Tháo trỏ vào mình và Lưu Bị và nói : "Anh hùng trong thiên hạ bây giờ chỉ có sứ quân và Tháo này mà thôi" thì "giật nảy mình, cái thìa, đôi đũa cầm ở tay rơi cả xuống đất". Lưu Bị giật mình không phải là biểu hiện của sự hèn nhát, ông giật mình bởi sợ rằng bị lộ ý đồ chiến lược. Lưu Huyền Đức nhanh chóng lấy lại bình tĩnh và có cách xử lí tình huống rất thông minh. Tính cách khiêm nhường và ôn hoà của một hiền nhân quân tử có chí lớn được thể hiện rõ trong lối ứng xử của Huyền Đức. Trước câu hỏi đầy dò xét của Tháo về quan niệm người anh hùng, Huyền Đức cũng đã rất khiêm tốn mà từ chối. Khi bị buộc phải trả lời, thì đưa ra những nhân vật đáng lưu ý, trong đó có ý dò xét thái độ của Tào Tháo. Khiêm nhường, thận trọng, kín đáo, khôn ngoan là những nét tính cách nổi bật của Huyền Đức trong đoạn trích này, và đây cũng là phẩm chất cần thiết của một vị vua hiền.

    Đối lập với tính cách khiêm nhường của Huyền Đức là thái độ kiêu ngạo, tự phụ của Tào Tháo. Nhân vật này vốn đã rất nổi tiếng với câu nói "Ta thà phụ người chứ nhất quyết không để người phụ ta". Tào Tháo có chí lớn, có tài cao, hiểu đời và hiểu thời thế, luận về anh hùng, Tháo nói :

    "Rồng lúc thì to, lúc thì nhỏ, lúc thì bay, lúc thì nấp. Lúc to thì nổi mây phun mù ; lúc nhỏ thì thu hình ẩn bóng ; khi bay ra thì liệng trong trời đất ; khi ẩn thì núp ở dưới sông".

    Lí luận ấy thể hiện một trí tuệ sắc sảo, một tầm nhìn xa trông rộng. Chí lớn của Tào Mạnh Đức còn được thể hiện ở quan niệm về anh hùng :

    "Anh hùng là người trong bụng có chí lớn, có mưu cao, có tài bao trùm được cả vũ trụ, có chí nuốt cả trời đất"...

    Tào Tháo là một gian hùng thời loạn, quan niệm về người anh hùng của Tháo là một quan niệm đầy tham vọng. Tháo có tài nhưng lòng dạ nham hiểm, xảo quyệt, tính cách của hắn tiêu biểu cho những kẻ thống trị chuyên quyền, "Hắn cũng tàn bạo như Đổng Trác, vô ơn bạc nghĩa như Lã Bố, nhưng biết che đậy tâm địa xấu xa, biết lấy lòng người nên đã đi trọn con đường công danh sự nghiệp, mồ yên mả đẹp". Những nét tính cách gian hùng của hắn được thể hiện một phần trong đoạn trích. Nổi bật ở đoạn trích này là tính tự phụ, kiêu ngạo (hắn không coi ai đáng là anh hùng, trừ hắn và Lưu Bị), hắn còn nham hiểm khi thăm dò ý định của Lưu Bị.

    Mục đích cuộc luận bàn về anh hùng của Tháo là thăm dò thái độ của Huyền Đức, vì thế Tháo lừa đánh những đòn rất bất ngờ và nham hiểm. Bất ngờ mời Huyền Đức đến uống rượu, chủ động đưa ra nội dung bàn luận về quan niệm anh hùng và buộc Huyền Đức vào thế không thể chối từ. Và gian xảo hơn là bất ngờ kết luận mình và Huyền Đức là người anh hùng khiến cho Huyền Đức khó có thể tránh được sơ hở. Song lòng yêu mến dành cho nhà Thục đã khiến nhà văn tạo nên một tiếng sấm rền vang đầy bất ngờ và đúng lúc để giúp Huyền Đức che giấu được cái giật mình nguy hiểm. Câu nói của Tào Tháo còn ẩn chứa cả sự ngầm đe doạ của một người đầy tham vọng. Nét nổi bật nhất trong tính cách của Tào Tháo được thể hiện ở câu nói này. Đây cũng là đỉnh điểm của mâu thuẫn, là điểm thắt nút và điểm mở nút là hành động che giấu cái giật mình một cách khéo léo của Huyền Đức. Tào Tháo đẩy mâu thuẫn lên cao trào với câu nói đầy khiêu khích còn Huyền Đức giải quyết mâu thuẫn bằng một hành động khiêm nhường của một người biết ẩn mình khi cần thiết.

    Tam quốc diễn nghĩa là một tiểu thuyết chiến trận song đằng sau những câu chuyện về những trận đánh, những mưu đồ bá vương là những tư tưởng nhân đạo sâu sắc. Qua những điển hình nghệ thuật như Tào Tháo, Lưu Bị, Quan Công, Trương Phi, Khổng Minh, Tôn Quyền… tác giả đã thể hiện những quan điểm của mình về người anh hùng, về cuộc sống và thể hiện ước mơ chính đáng của nhân dân về một xã hội ổn định, một triều đình chuẩn mực. Đồng thời tác phẩm cũng cất lên tiếng nói phê phán chiến tranh phong kiến vì mục đích tranh giành quyền lực giữa những kẻ đầy tham vọng làm bá chủ thế giới.

    (Nguồn: Đọc hiểu Ngữ Văn 10, NXB GD 2006)

Tag của Chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
Cam kết

Diễn đàn là một hệ thống mở, chúng tôi hoàn toàn không bảo đảm tính chính xác của nội dung và hoàn toàn không chịu trách nhiệm về bất kỳ nội dung nào. Đứng trên lập trường khách quan, chúng tôi tôn trọng tất cả các bài viết và ý kiến của bạn đọc. Chúng tôi chỉ xóa nội dung được cho là vi phạm bản quyền khi có yêu cầu từ phía tác giả hoặc đại diện.

Tài trợ
chữ ký số viettel, chữ ký số | m88.com | Sinh viên Thương mại | Miễn phí Tai Viber cho mobile | Tin tức hot nhất 24h qua | Cập nhật tin sao tại Yeutretho.com | Doc bao 24h
Theo dõi
Liên hệ
quantri.kdh@gmail.com|
Khung Upload nhanh

10738
Lượt xem