Kết quả 1 đến 2 của 2
  1. #1
    toikhong.botay's Avatar Điều hành viên thử việc
    Ngày tham gia
    Sep 2011
    Bài viết
    306

    Nỗi sầu oán của người cung nữ (Trích "Cung oán ngâm khúc" - Nguyễn Gia Thiều)

    Nỗi sầu oán của người cung nữ
    (Trích "Cung oán ngâm khúc" - Nguyễn Gia Thiều)


    Quê hương nhà thơ Nguyễn Gia Thiều (1741-1798) ở thôn Liễu Ngạn, tổng Liễu Lâm, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc (nay thuộc xã Ngũ Thái, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh), thuộc một trung tâm Phật giáo cổ, từ ngàn năm xưa vốn nổi danh với cái tên Luy Lâu, về sau trở thành đình tổ của thiền phái Tỳ Ni Đa Lưu Chi.

    Một điều cần chú ý là không khí thời đại đã tác động mạnh mẽ tới đời sống tâm linh của Nguyễn Gia Thiều. Bản thân ông sinh ra và lớn lên vào giai đoạn tàn suy của cuộc hôn phối chính trị vua Lê - chúa Trịnh, ngay sau đó là Lê - Tây Sơn và cuối cùng là sự khẳng định vương triều Tây Sơn – Nguyễn Huệ. Rõ ràng trong hoàn cảnh xã hội tao loạn, trăn trở tìm đường thì mọi nguồn sáng tư tưởng đều có thể được vận dụng, hoặc để công kích nhau, hoặc để tổng hợp, chuyển hoá tới một hình thức cao hơn, hoặc dung hoà mong tìm đến sự an bài về mặt tư tưởng... Sống trong giai đoạn các tư trào tư tưởng có biểu hiện tìm đường “đua tiếng”, nhà nghệ sĩ ưu thời mẫn thế Nguyễn Gia Thiều không thể không lựa chọn một lời hoà giải đời sống tâm linh theo cung cách của mình. Trong sự va động nhiều chiều, một nguồn tư tưởng cốt lõi đã hấp dẫn, tạo được sự đồng cảm sâu sắc nơi ông chính là Phật giáo. Xem xét toàn bộ tác phẩm Cung oán ngâm khúc sẽ thấy cảm quan Phật giáo bộc lộ trước hết ở tần số xuất hiện đậm đặc các từ ngữ, thuật ngữ phản ánh quan niệm đời sống nhà Phật như nước dương, lửa duyên, bể khổ, bến mê, bào ảnh, mối thất tình, tuồng ảo hoá, kiếp phù sinh, cơ thiền, cửa Phật, hoa đàm đuốc tuệ, túc trái, tiền nhân hậu quả...

    Ở đây, trong giới hạn cụ thể của đoạn trích Cung oán ngâm khúc (câu 209-244) trong sách Ngữ văn 10 - Nâng cao, Tập II (Nxb. Giáo dục, H, 2006) lại thấy Nguyễn Gia Thiều thể hiện sâu sắc tâm trạng người cung nữ đang cô đơn, thất vọng, chán chường đến tận cùng. Tâm trạng sầu oán đi từ cảm giác đơn độc trước thời gian tàn tạ, mênh mang "thức ngủ thu phong", "chiều ủ dột", "chiều nhạt vẻ thu", "giá đông", trống trải trước không gian "trong cung quế âm thầm chiếc bóng", "phòng tiêu lạnh ngắt như đồng", "thâm khuê vắng ngắt như tờ", "tin mong nhạn vắng", "tiếng lắng chuông rền", không còn tìm thấy đâu niềm vui trong cuộc sống đời thường "tranh biếng ngắm", "mắt buồn trông", "buồn mọi nỗi", "ngán trăm chiều" và dẫn đến nỗi niềm thương thân, trách giận số phận, trách giận thực tại: Hoa này bướm nỡ thờ ơ... Đang tay muốn dứt tơ hồng - Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra...

    Bên cạnh sự nhạy cảm với biểu tượng mùa thu thì bóng đêm cũng đã trở thành nỗi ám ảnh nặng nề, thê lương, ảm đạm trong tâm tư người cung nữ:

    - Đêm năm canh trông ngóng lần lần
    - Lầu đãi nguyệt đứng ngồi dạ vũ
    - Đêm năm canh, tiếng lắng chuông rền
    - Lạnh lùng thay giấc cô miên,
    - Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u.
    - Đã than với nguyệt lại rầu với hoa
    - Đêm năm canh lần nương vách quế,
    Cái buồn này ai dễ giết nhau.

    Rõ ràng thời gian ở đây tự thân đã bao hàm nỗi cô đơn, trống vắng, thời gian chìm trong giấc ngủ cô đơn (hay giấc ngủ cô đơn chìm trong dòng thời gian lạnh lùng vô vọng), thời gian kết tụ không hề có hoạt động của con người mà chỉ là khung cảnh một bức tranh tĩnh vật Mùi hương tịch mịch, bóng đèn thâm u. Đặc điểm đó tạo nên tính đối lập sâu sắc giữa thời gian hiện tại và thời gian quá khứ, giữa hiện thực hôm nay và mơ tưởng về một thời xa xôi tạo nên những nghịch lý khi thấy thời gian qua nhanh - thời gian "vô cảm", khi khác lại thấy thời gian trôi quá chậm - thời gian "chết mòn". Toàn bộ những trạng thái cảm xúc về thời gian đó vừa mâu thuẫn vừa thống nhất với nhau bởi chúng là sản phẩm của cùng một hoàn cảnh, khác chăng là ở sự phân hoá các trạng thái tâm lý, tình cảm. Đến một mức độ nhất định, nội dung trữ tình đó đã thông qua sự cảm nhận về thời gian mà lên tiếng kết án kẻ đã dồn con người vào tình thế cô đơn, bế tắc, mất hết mọi nguồn vui:

    Đêm năm canh lần nương vách quế,
    Cái buồn này ai dễ giết nhau.
    Giết nhau chẳng cái lưu cầu,
    Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa!

    Trên phương diện nghệ thuật, cách thức cảm nhận và biểu hiện thời gian tâm trạng đặc biệt có ý nghĩa trong việc mô tả nỗi lòng người cung nữ và những nhận thức về xã hội, nhân sinh. Toàn bộ những khối mâu thuẫn đó đã được chuyển đổi thành nghịch lý trong sự biểu hiện thời gian tâm trạng, thời gian nghệ thuật: con người luôn mơ tưởng về quá khứ chứ không phải về tương lai; hy vọng về tương lai chỉ là vòng khép trở về với quá khứ, mong được như thời quá khứ.

    Trên tất cả là sự hiện hình tâm trạng con người cá nhân chỉ còn biết cô đơn sống với "chiếc bóng", "một mình", "hoa này", "cái buồn này", "xe thế này có dở dang không?", một cá nhân tự ý thức về "con người thừa", sự vô vọng, đánh mất bản ngã và nỗi buồn hàm chứa những nuối tiếc, bực dọc, day dứt, bất bình:

    - Một mình đứng tủi ngồi sầu,
    Đã than với nguyệt lại rầu với hoa.
    - Hoa này bướm nỡ thờ ơ,
    Để gầy bông thắm, để xơ nhị vàng.

    Có thể nói thêm rằng, thấp thoáng đằng sau tiếng nói bi kịch của người cung nữ là ý thức phản kháng, tố cáo chế độ cung nữ, mơ hồ nghĩ về quyền sống làm người, quyền được hưởng hạnh phúc và ước vọng một cuộc đổi thay:

    Đang tay muốn dứt tơ hồng,
    Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!

    Xét trên phương diện ngôn từ nghệ thuật, đoạn thơ sử dụng nhiều từ Hán Việt và điển tích khiến từng câu thơ trở nên hàm súc, uyên bác, trang trọng. Tác giả khai thác lối thơ song thất lục bát uyển chuyển, sinh động, tạo nên nhịp điệu gợi cảm, bâng khuâng man mác. Từng đôi câu thơ thất ngôn (bảy chữ) tạo nên thế đăng đối kết hợp với thể thơ lục bát truyền thống thường kết thúc ở câu thứ tám với những thanh bằng ngân vang, bâng khuâng, day dứt. Mặt khác, với đoạn thơ chỉ có 36 câu nhưng số lượng những tính từ thể hiện sắc thái tình cảm xuất hiện đậm đặc: âm thầm, lạnh ngắt, ủ dột, bâng khuâng, vẩn vơ, vắng ngắt, chiều nhạt, lạnh lùng, tịch mịch, thâm u, khắc khoải, ngẩn ngơ, thờ ơ... Tất cả những điều đó làm nên hình thức nghệ thuật mang âm hưởng buồn thương, phản ánh sâu sắc nỗi sầu oán của người cung nữ trước cuộc đời và sự ý thức về thân phận con người cá nhân, qua đó là khát vọng đòi quyền sống và sự khẳng định những giá trị nhân văn cao cả.

    Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều không chỉ là tác phẩm tiêu biểu bậc nhất cho thể loại ngâm khúc mà đồng thời cũng là tác phẩm xuất sắc trong nền văn học dân tộc giai đoạn nửa cuối thế kỉ XVIII - đầu thế kỉ XIX, có vị trí quan trọng trong chương trình giảng dạy từ bậc phổ thông tới ngành văn các trường cao đẳng và đại học. Viết Cung oán ngâm khúc, Nguyễn Gia Thiều không chỉ viết riêng về cuộc đời bất hạnh của người cung nữ mà thông qua đó bộc lộ những phẫn uất, bất bình của mình trước xã hội đương thời. Tác phẩm Cung oán ngâm khúc của Nguyễn Gia Thiều lớn lao bởi chính tác giả đã cảm nhận được nỗi đau của thời đại, gián tiếp phát hiện và khẳng định quyền được sống, được hưởng mọi hạnh phúc của người phụ nữ ngay giữa cuộc đời trần thế này. Có thể nói, ý nghĩa thanh lọc, ý nghĩa nhân bản của thi phẩm Cung oán ngâm khúc cũng ở chính sự hiện diện con người nhà thơ như một nhân cách lịch sử, một tâm trạng bi kịch, trở thành biểu tượng cho khát vọng nhân văn và những nỗi khắc khoải của cả một xã hội đang đòi hỏi cần được đổi thay, phát triển./.

    ( PGS.TS Nguyễn Hữu Sơn - Viện Văn học )

    Xem thêm bài khác
    “Luôn luôn có điểm khởi đầu cho những điều vĩ đại,
    nhưng việc tiếp tục đến đích mới thực sự là vinh quang”


  2. #2
    toikhong.botay's Avatar Điều hành viên thử việc
    Ngày tham gia
    Sep 2011
    Bài viết
    306

    NỖI OÁN SẦU CỦA NGƯỜI CUNG NỮ

    ( Trích Cung oán Ngâm khúc)

    Nguyễn Gia Thiều



    Nguyễn Gia Thiều ( 1741 – 1798) là nhà văn lớn của thế kỉ XVIII. Xuất thân từ một gia đình quý tộc thuộc dòng dõi Chúa Trịnh, Nguyễn Gia Thiều tận mắt chứng kiến sự suy tàn, sụp đổ của chế độ phong kiến , cuộc sống xa hoa trụy lạc của vua chúa đương thời. Từ thực tế bi thương của những người cung nữ, Nguyễn Gia Thiều đã viết “ Cung oán ngâm khúc”. Khúc ngâm 356 câu song thất lục bát là nỗi oán sầu ngút trời của người cung nữ, là tiếng lòng của thi nhân phản kháng lại chế độ cung tần tàn nhẫn trong chế độ phong kiến đương thời.

    Đoạn trích “ Nỗi oán sầu của người cung nữ” gồm 5 khổ thơ với 20 câu biểu hiện nỗi mong chờ vò võ, nỗi sầu thương oán hận của người cung phi bị ruồng bỏ.

    Vua chúa có hàng ngàn cung nữ. Có cung phi cả đời may mắn được một vài lần “ chúa dấu vua yêu”, còn phần đông không được biết đến “ ơn mưa móc” của vua chúa mà còn bị ruồng bỏ. Nguyễn Gia Thiều là một nghệ sũ quý tộc , gần gũi và hiểu biết những người cung nữ. Ông thông cảm sâu xa với nỗi bất hạnh của họ:
    Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng
    Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền
    Lạnh lùng thay giấc cô miên,
    Mùi hương tịnh mịch bóng đèn thâm u.
    Tranh biếng ngắm trong đồ tố nữ
    Mặt buồn trông trên cửa nghiêm lâu,
    Một mình đứng tủi ngồi sầu,
    Những than với nguyệt, lại rầu với hoa!

    Nỗi mong đợi một đôi chút “ơn mưa móc” của vua chúa với người cung nữ thật là cảm động:
    “ Ngày sáu khắc tin mong nhạn vắng
    Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền”

    Không thể nói một cách đại lược là “ ngày”, “ đêm” người cung nữ mong đợi vua đến, mà phải nói “ ngày sáu khắc” , “ đêm năm canh”, vế đối này mới được trọn vẹn sự mong đợi vô vọng của người cung nữ. Nhà thơ sẽ phải nhập thân với cung nữ mới hiểu được tâm trạng “ Đêm năm canh tiếng lắng chuông rền “. Từng canh, người cung nữ lắng nghe bước chân “rồng” thì lại chỉ “ lắng tiếng chuông
    rền” thật là buồn tê tái.

    Thi nhân phải thốt lên lời thương cảm cho kiếp cô đơn của người cung nữ:
    “Lạnh lùng thay giấc cô miên
    Mùi hương tịch mịch bóng đèn thâm u”

    Đảo ngữ “ lạnh lùng thay” càng làm nổi bật cảm giác lạnh của “ giấc cô miên”, giấc ngủ cô đơn. Mà sao Nguyền Gia Thiều có nỗi đồng cảm sâu xa với kiếp người bất hạnh như vậy? Nỗi thương cảm thật là nghệ sĩ, cảm được cái” tịch mịch” của mùi hương, cái “ thâm u” của bóng đèn thì thế giới tâm linh của thi nhân thật đáng kính nể!

    Nỗi buồn trong lòng người cung nữ hiện ra cử chỉ, hiện ra nét mặt:
    “ Trăng biếng ngắm trong đồ tố nữ
    Mặt buồn trông trên cửa nghiêm lâu”

    Trông chờ mòn mỏi nhà vua không đến, người cung nữ hướng về “ cửa nghiêm lâu”, nơi vua ở mà buồn ra mặt. Cô đơn vẫn hoàn cô đơn:
    “ Một mình đứng tủi ngồi sầu,
    Những than với nguyệt, lại rầu với hoa!”

    Nỗi buồn cứ tăng lên mãi, từ mong ngón đến buồn tủi, sầu muộn. Biết cùng ai chia sẻ? “ Những than với nguyệt, lại rầu với hoa”, những “ nguyệt”, “ hoa” là biểu tượng của phụ nữ , cho nên than với “ nguyệt “ là than với chính mình, “ rầu với hoa” cũng là rầu với chính mình. Nỗi cô đơn càng nhân lên. Phải thương kiếp hồng nhan lắm mới có những biểu hiện tài hoa như vậy.

    Thật là “ sầu đong càng lắc càng đầy” ( Kiều), nỗi buồn trông, sầu muộn đã thành “ khắc khoải”, thành “ ngẩn ngơ”, thành oán hận :
    “ Buồn mọi nỗi lòng đã khắc khoải,
    Ngán trăm chiều bước lại ngẩn ngơ,
    Hoa này bướm nỡ thờ ơ,
    Để gầy bông thắm, để xơ nhị vàng!”

    Cặp từ “ hoa”, “ bướm” ẩn dụ cho tình nhân thì thường, nhưng ẩn dụ cho cung nữ và vua thì lạ. “ Hoa này…” là người cung nữ tự thấy mình có hương có sắc vậy mà vua “ nỡ thờ ơ” không đoái hoài . “ Để gầy bông thắm, để xơ nhị vàng!” . Hình ảnh “ gầy” , “ xơ” thật là tội cho một kiếp hoa. Hình ảnh có tính cách miêu tả sự tàn phai của hoa mà cũng là của kiếp hồng nhan. Nhịp điệu thơ đay nghiến, trách móc, oán giận.
    “ Đêm năm canh lần nương vách quế,
    Cái buồn này ai dễ giết nhau?
    Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu
    Giết nhau bằng cái u sầu , độc chưa?”

    Đến đây , nhười cung nữ đã sụp đổ hoàn toàn cả tinh thần lẫn thể xác. Người cung nữ không còn “ đứng tủi ngồi sầu” nữa mà “lần nương vách quế” thật là tội nghiệp. Nhà thơ đã nổi giận bằng một loạt câu hỏi tu từ, “ Cái buồn này ai dễ giết nhau?”, “ Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa?” Nhà thơ không còn giữ khoảng cách để miêu tả tình cảm tâm trạng của cung nữ mà nhập cuộc , trực tiếp lên tiếng đầy căm giận chế độ cung tần tàn nhẫn . ba câu thơ điệp lại ba từ “ giết nhau” đay nghiến những kẻ đã tạo ra cái chết cả thể xác lẫn tinh thần của những cung phi, những người đẹp bất hạnh. Nguyễn Gia Thiều hiển hiện là một trí thức uyên bác, giàu lòng nhân ái, mà lại duy lí trong những câu thơ lạnh, sắc:
    “ Giết nhau chẳng cái Lưu Cầu
    Giết nhau bằng cái u sầu, độc chưa?”

    Rồi nhà thơ lại trở lại với tâm trạng oán trách phẫn nộ của người cung nữ:
    “ Tay Nguyệt lão khéo xe chằng chỡ
    Xe thế này có dở dang không?
    Dang tay muốn dứt tơ hồng
    Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra!”

    Nguyệt lão xe duyên người đẹp với vua mà “ xe chằng chỡ” hay lạ lùng, là từ sáng tạo của Nguyễn Gia Thiều. “ Xe chằng chỡ” là xe quằng xiên, lằng nhằng, chẳng đâu vào đâu cả.

    Nguyệt lão thật là đáng trách “ Xe thế này có dở dang không?” Từ “ dở dang” đã gói gọn trọn cuộc đời bi thảm của cung nữ. Vua yêu thì là may, mà được mấy cung nữ “ chúa dấu vua yêu”? Rồi bị ruồng bỏ thật là thê thảm, quãng đời còn lại sống như một con vật đã “ tế thần”, mà đâu phải là con vật , đây là những con người , người đẹp vào hàng quốc sắc vậy mà khi vua ruồng bỏ rồi thì bị cấm kị hạnh phúc lứa đôi cho đến già, đến chết, “ dở dang” chưa, “ độc chưa”?

    Từ trách móc oán hận người cung nữ phẫn uất:
    “ Dang tay muốn dứt tơ hồng
    Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra”

    Theo diển cố xưa , Nguyệt lão có dây tơ hồng xe duyên cho những cặp vợ chồng, đó là sợi dây tơ hồng của tình ái, của hạnh phúc lứa đôi. Còn dây tơ hồng mà Nguyệt lão xe người đẹp với vua chúa đã thành sợi dây oan nghiệt . Trong nỗi đau khổ tuyệt vọng, người cung nữ muốn “ dứt tơ hồng”, sợi dây vô hình mà oan trái, độc địa! nàng muốn phá tung sự giam hãm bi thảm này:
    “ Bực mình muốn đạp tiêu phòng mà ra”

    Những động từ “ dứt “, “ đạp” thật là mạnh mẽ, nhưng là những hành động của tâm trạng, chứ chưa phải là hành động của thực tế. Những hành động của ước muốn ấy càng cho thấy sự tàn nhẫn của chế độ cung tần và sự bi thảm của kiếp người cung phi.

    Nguyễn Gia Thiều là một trí thức quý tộc, ông được hưởng nhiều ân sủng của nhà Chúa, nhưng ông lại có trái tim nghệ sĩ, có lòng nhân đạo cao cả. Ông sống gần gũi với các bậc đế vương và gần gũi với nạn nhân của các bậc đế vương. Ông thương yêu, đồng cảm với những người cung nữ bất hạnh và phản kháng chế độ cung tần thối nát, tàn nhẫn . Chỉ một đoạn trích “ Cung oán ngâm khúc”, ta cũng nhận ra tài hoa và tâm hồn lớn của Nguyễn Gia Thiều. Thể thơ song thất lục bát hợp với hình thức “ NGÂM”, nhưng không quá du dương như “ Chinh phụ ngâm”, mà sắc sảo, nặng lí trí, uyên bác. Nhà thơ đã thể hiện quá trình phát triển tâm trạng của người cung nữ, từ mong chờ sầu muộn đến ngán ngẩm ê chề đến đay nghiến , căm hận , phẫn uất . Khúc ngâm có sự hài hòa tuyệt vời giữa ngôn ngữ bác học và ngôn ngữ bình dân, giữa hình ảnh và nhạc điệu, giữa trữ tình và triết lí . “ Cung oán ngâm khúc” là tác phẩm thiên tài của Nguyễn Gia Thiều vì đấy là đỉnh cao của ngôn ngữ, của trí tuệ và của tinh thần nhân văn
    (sưu tầm)
    “Luôn luôn có điểm khởi đầu cho những điều vĩ đại,
    nhưng việc tiếp tục đến đích mới thực sự là vinh quang”


Các Chủ đề tương tự

Tag của Chủ đề này

Quyền viết bài

  • Bạn Không thể gửi Chủ đề mới
  • Bạn Không thể Gửi trả lời
  • Bạn Không thể Gửi file đính kèm
  • Bạn Không thể Sửa bài viết của mình
  •  
Cam kết

Diễn đàn là một hệ thống mở, chúng tôi hoàn toàn không bảo đảm tính chính xác của nội dung và hoàn toàn không chịu trách nhiệm về bất kỳ nội dung nào. Đứng trên lập trường khách quan, chúng tôi tôn trọng tất cả các bài viết và ý kiến của bạn đọc. Chúng tôi chỉ xóa nội dung được cho là vi phạm bản quyền khi có yêu cầu từ phía tác giả hoặc đại diện.

Tài trợ
chữ ký số viettel, chữ ký số | m88.com | Sinh viên Thương mại | Miễn phí Tai Viber cho mobile | Tin tức hot nhất 24h qua | Cập nhật tin sao tại Yeutretho.com | Doc bao 24h
Theo dõi
Liên hệ
quantri.kdh@gmail.com|
Khung Upload nhanh

11459
Lượt xem